Home Blog Page 2

8 Bộ Kinh Phật Thường Tụng Và Ý Nghĩa Chi Tiết Của Từng Bộ

0

ÐẠI Ý CÁC BỘ KINH THƯỜNG TỤNG

Mỗi tập kinh Phật thuyết ra đều có ý nghĩa giáo huấn tuỳ với căn cơ của chúng sanh. Do đó, muốn biết công đức của mỗi loại kinh tụng, người Cư sĩ cần phải hiểu đại khái tóm lược ý nghĩa của mỗi cuốn kinh.

Nhựng bộ kinh thường tụng là: A Di Ðà, Phổ Môn, Dược Sư, Thủy Sám, Ðịa Tạng, Báo Ân, Lương Hoàn, Pháp Hoa. Còn những tập kinh dài như: Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Ðại Bát Nhã, Bảo Tích.v.v…thì một phần vừa dài, một phần nghĩa lý thâm sâu nên it người tụng đến.

Vì vậy, với quan điểm nêu lên những điều thường thức để dễ tìm hiểu, ở đây cũng chỉ tóm lược đại ý các kinh thường tụng để có thể tùy căn cơ từng người, từng sự việc chọn lựa mà đọc tụng.

1/ Kinh A Di Ðà

Phật thuyết kinh này là chỉ cho chúng sanh biết tại cõi Tây phương có đức Giáo chủ mệnh danh là Phật A Di ÐÀ, cõi nước của ngài có đủ mọi cảnh yên vui sung sướng. Ai tụng kinh A Di Ðà cũng có thể được Phật A Di Ðà tiếp đón về nơi Cực lạc, nhưng điều cốt yếu trong kinh chỉ gồm có một câu là:”nhất tâm bất loạn” nghĩa là Phật dạy: từ một ngày cho đến bảy ngày, làm thế nào để có được nhất tâm nghĩa là châm châm chú chú vào việc nguyện cầu khiến được trong lặng hoàn toàn không loạn động thì người đó khi lâm chung sẽ được đức Phật A Di Ðà cùng các vị thánh chúng  hiện ra trước mắt, nếu người đó tâm không có chút gì điên đảo lập tức được vãng sanh.

Ðức Phât A Di Ðà còn phát nguyện tiếp dẫn chúng sinh kẻ sống cũng như người thác, nếu ai niệm danh hiệu Ngài đều được tiếp sang tịnh độ.

Do vậy, Kinh A Di Ðà có công năng siêu độ cho các người quá cố. Ðiều chính là phải làm thế nào cho được nhất tâm bất loạn, nếu không luyện được hẳn hoi bất loạn thì cũng phải có sự chí thành chi kinh, mới mong tự độ và độ cho người khác được.

2/ Kinh Phổ Môn

Phổ môn là một phẩm (phẩm thứ 25) trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói đến ngài Quán Thế Âm Bồ Tát cùng những hạnh nguyện của ngài, ai nghe đến tên, niệm đến danh hiệu thì ứng tiếng mà linh cảm.

Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát lại thường biến hiện sắc thân thành tất cả các loại chúng sanh để cứu độ cho các chúng sanh. Do vậy, nếu ai mắc tai nạn, gập mọi trở ngại, nhất tâm niệm tụng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc chuyên tụng kinh Phổ Môn sẽ giải trừ được mọi khổ nạn.

Ðiều cốt yếu là khi tụng kinh nầy phải thật thành tâm và phải phát nguyện rộng lớn, làm việc bố thí thì mới có hiệu lực.

3/ Kinh Dược Sư

Kinh này, đức Phật chỉ dạy cho ta mỗi khi đau ốm phải tìm thầy, chạy thuốc chữa bệnh. Thêm vào đó một phương pháp chữa bệnh linh nghiệm không kém, đó là sức tin tưởng. Tụng danh hiệu đức Ðông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tức là cầu tìm đúng thuốc chữa đúng căn bệnh của mình, không tin những tà ma yêu nghiệt, những bọn thầy pháp chuyên đem chuyện mê tín dị đoan chữa bệnh khiến phải sa đọa vào vòng hoạnh tử. Lại nữa, trong kinh Dược Sư khuyên ta không được nghe sằng, tin nhảm làm bùa làm phép lung tung, giết hại sinh vật cúng cấp thần linh, ma quái. Nếu làm những chuyện như thế chỉ khiến gia tăng tội lệ mà bệnh không những không khỏi, đôi khi còn bị chết oan là khác.

Vậy phươnh pháp tụng kinh Dược Sư là tăng trưởng lòng tin chân chính của mình mà chữa bệnh cho chính mình, đồng thời phải lo thuốc thang chạy chữa và tránh những kẻ yêu ma lòe bịp cúng thần tróc quỷ, mới mong bệnh hoạn mau lành.

Tụng kinh này có công hiệu vì những lý do:

-Ðức tin càng mạnh thì bệnh càng chóng khỏi.

-Tránh điều mê tín dị đoan để khỏi bị chết vì lầm thầy, lầm thuốc.

-Tụng kinh tức là thực hiện phương pháp lắng đọng tâm trí, tâm trí lắng đọng không khởi lên dục vọng, phiền não, lo sợ, rầu buồn, lẽ dĩ nhiên bệnh hoạn không do đâu mà phát sinh hay nắng ra được.

-Tránh giết hại các loài sinh vật tức là giảm bớt tội khiên và cố nhiên đã được hưởng phúc báo, dù có bệnh cũng mau lành mạnh.

Ðiều cốt yếu là khi tụng kinh này tưởng nên theo phương pháp “tự tha hổ trợ” nghĩa là dùng sức mình tin tưởng và sức người giúp đỡ, sức người tức là sự minh y của ông thầy thuốc hiệp với sức kỳ nguyện của những người tụng kinh thì nhất định mau khỏi bệnh vậy.

4/Kinh Thủy Sám

Kinh này có ý nghĩa dùng sức sám hối, cũng ví như lấy nước rửa sạch mọi dơ bẩn. Kinh này sở dĩ được trước thuật ra là do ngài Ngộ Ðạt Quốc Sư khi được nhà vua trao cho chiếc sập đàn hương, lại đối xử vô cùng trọng vọng, ngài Ngộ Ðạt khởi lên một chút vọng tâm nên liền gặp tai nạn, đầu gối thốt nhiên mọc lên cái nhọt (mụt) như hình mặt người. Sau nhờ có sư Tri Huyền chỉ cho biết cách lấy nước nơi một giếng khơi trong chốn am thiền lau rửa, cái nhọt mặt người liền bật ra tiếng kể lại chuyện oan khuất từ mười kiếp trước  vẫn hằng theo dỏi để mong báo oán, nay vì ông Ngộ Ðạt khởi lên dục vọng mà có nhịp trả oán, nhưng nay ngài Tri Huyền đã chỉ dạy dùng nước  giếng Tam Muội mà rửa thì không dám mang lòng oán hận nữa.

Cũng vì thế mà trong kinh kể ra những điều mà chúng sanh thường hay mắc phải gây thành tội lỗi, lại nói rõ cả những tội nào phải chịu báo nào. Cách thức làm thế nào để tránh tội.v.v…do đó mới đặt tên là Thủy Sám nghĩa là việc sám tội  cũng như nước rửa hết mọi nhơ bẩn vậy.

Khi tụng kinh này phải nên thành tâm hối lỗi, tất cả những gì đã phạm thề quyết từ nay chừa bỏ, điều thiện gắng làm, điều ác tránh xa. Như thế là tiêu diệt tội khiên của mình và do chỗ tâm mình thanh tịnh như nước trong suốt có năng lực rửa tội cả cho người khác nữa. Bởi ai nghe kinh mà cũng hối lỗi tức nhiên đều trở về nẽo thiện và làm việc thiện tức là tránh hết ác nghiệp đó vậy.

5/ Kinh Ðịa Tạng

Kinh này thuật lại lời Phật chỉ dạy cho các đệ tử biết nguyện lực của một vị Bồ Tát vô cùng cao rộng:” địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”nghĩa là địa ngục mà còn người, ngài thề chưa thành Phật, vị đó là ngài Ðịa Tạng Bồ Tát.

Cũng do nguyện lực đó mà ngài Ðịa Tạng thường cứu độ chúng sanh trong cõi ngục tù tăm tối. Cho nên kinh này có công năng siêu độ cho thất tổ, cửu huyền và tất cả chúng sanh khổ ách.

Yếu lý của kinh này là nhân nguyện lớn của Bồ Tát, mình cũng phải phát tâm Bồ đề, tâm lặng tức là thoát khỏi địa ngục, tụng kinh cầu nguyện là lấy sức thần giao cách cảm của mình linh ứng với những linh giác chưa được siêu thoát, nhờ uy lực và thần lực sẽ được siêu thăng. Cho nên tụng kinh Ðịa Tạng có thể đưa người ở chốn tam đồ lục đạo đến nơi bát đức vậy.

6/ Kinh Báo Ân

Tức là kinh Ðại báo Phụ Mẫu trọng ân, Phật thuyết đến công đức sanh thành dưỡng dục của các bậc cha mẹ, và dạy cho con cháu là phải có bổn phận đền đáp công ơn sao cho xứng đáng.

Kinh này thường tụng vào các ngày giỗ chạp, hoặc có việc hiếu. Ngươi tụng phải thề nguyện từ nay về sau ăn ở cho phải đạo đối với cha mẹ, đối với các bậc tôn trưởng. Người trong gia đình nghe kinh là phải giữ gìn: trên ra trên, dưới ra dưới, một nhà hiếu thuận, thế cũng là báo ân đó vậy.

7/ Kinh Lương Hoàng

Toàn bộ kinh này là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Còn gọi là kinh Ðại Sám. Nội dung kinh này khá dài, nguyên nhân trước thuật kinh này là vì vua Lương Vũ Ðế xưa không tin Phật pháp, chỉ tin ngoại đạo. Thuở còn hàn vi, có vợ là Hy-thị, nhân sự ghen tuông mà tự trầm mình dưới giếng. Ðến khi Lương Vũ Ðế lên ngôi vua thì Hy-thị hóa làm con rắng mãng xà quấy rối cung vi.

Thỉnh khắp các hàng Thuật sĩ đến chú nguyện mà không công hiệu. Sau có Tề Công Trưởng Lão dạy làm đàn tràng sám nguyện cầu rửa tội khiên ác độc nên nhờ đó Hy-thị hiện thân tạ ơn là đã thác sinh. Từ đấy Lương Vũ Ðế mới tin theo Phật pháp, ví vậy mà tập Kinh Sám Nguyện này đặt tên là Lương Hoàng.

Cũng vì tụng kinh này rũ sạch được mọi tội lỗi nên nay thường tụng trong việc báo hiếu cha mẹ hoặc ngày giỗ chạp gia tiên.

8/ Kinh Pháp Hoa

Gọi cho đủ phải là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một bộ kinh đầy đủ nhất về lý thuyết đại thừa Phật giáo, do đó khi Phật thuyết kinh này, các bậc Tỳ kheo hoặc Cư sĩ không đủ căn cơ đều phải rút lui.

Ðời nay đều thích tụng và tin tưởng rằng tụng kinh này được vô lượng công đức. Tuy nhiên  nếu quan niệm là chỉ tụng thôi mà có công đức thì ai cũng làm được cả. Phải nên có nhận định tế nhị là: Khi Phật thuyết kinh Pháp Hoa mà ai nghe cũng được thì hà cớ các hàng Tỳ Kheo hay Cư sĩ không đủ căn hạnh lại phải rút lui? Do đó ít nhất mình có tự phát khởi tâm đại thừa, làm đạo Bồ Tát hay không? Tụng kinh rồi có theo được chút gì như trong kinh không? Nếu không thì tụng đôi khi chỉ thêm nghi ngờ và thành luân chuyển mà thôi.

*Ðúng ra, đây chỉ là tóm lược yếu chỉ của mỗi kinh để Cư sĩ chúng ta có được một khái niệm tổng quát làm đầu mối nhận định căn hạnh của mình có thể làm được đến đâu, tín hướng thế nào mà hành trì theo với ước nguyện

4 Lời Bàn Về Nguồn Gốc Loài Người Do Thầy Toàn Không Trình Bày

0

 NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI 

Nói về nguồn gốc loài Người, một vấn đề liên quan tới nguồn gốc của chính Tổ-tiên xa xưa lâu đời của chúng ta; nó hết sức khó hiểu cho con người, đã có biết bao người suy nghĩ, nghiên cứu và lý luận để tìm câu trả lời. Ngày nay chúng ta đã có những thuyết trả lời khác nhau như sau:

– Thuyết cho rằng Người đầu tiên trên thế-gian này do một Thượng-Đế sinh ra, được viết trong Thánh Kinh của người Do-Thái giáo (Xin miễn bàn).

– Thuyết cho rằng loài Người do một loài Khỉ-Đột tiến hóa biến hóa mà thành, do một người nước Anh tên Charles-Robert-Darwin (1809-1882) nghiên cứu về loài Khỉ-Đột mà viết ra (Xin miễn bàn).

Thuyết của Phật-giáo

Ở đây người viết không trình bày hay phê bình chỉ trích hai thuyết trên, mà chỉ trình bày và mô tả thuyết của Phật giáo. Người đọc có toàn quyền suy xét, nhận xét theo quan điểm riêng của mình. Dù sao đi nữa, chân-lý bao giờ cũng là sự thật; dù thời gian có trôi đi, không gian có đổi chỗ, nhưng trải qua nghìn muôn ức tỷ năm sau, hoặc tại châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, hay châu Úc đi nữa, chân-lý vẫn bất di bất dịch không thay đổi, đó mới là chân lý.

Sau đây tôi xin ghi lại thuyết nguồn gốc loài Người của Phật-giáo do đức Phật đã dùng Phật- nhãn (mắt Phật) chiếu soi, nhìn thấu về vô thủy, nghĩa là Ngài nhìn về quá khứ hàng vô số tỷ năm, nên Ngài nói ra những gì đã thấy. Tôi viết như vậy chỉ là lấy ý của một kẻ phàm-phu mà viết, chứ chẳng phải như triết thuyết của Phật-giáo Tối-thượng-thừa; theo Phật-giáo Tối-thượng-thừa thì: “Như-Lai không đến, không đi, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, chỉ như như”. Nghĩa là chân-tánh cùng khắp không gian chỗ nào cũng có, chân-tánh cùng khắp thời gian lúc nào cũng hiện diện; như vậy làm gì có sự phân biệt qúa khứ, hiện tại, tương lai, đâu còn phân biệt chỗ này chỗ kia nữa.

Khi có thế giới (thế gian) hư hoại, hủy diệt bởi đại Hỏa tai, tất cả con người ở đó chết đi, hóa sinh đến cõi Trời Quang-Âm tương ưng với Nhị-thiền Sắc giới. (Khi có thế giới hư hoại hủy diệt bởi đại Thủy tai, tất cả con người chết đi, hóa sinh đến cõi Trời Biến-Tịnh tương ưng với Tam-thiền Sắc-giới. Khi có thế giới hư hoại, hủy diệt bởi đại Phong tai, tất cả con người chết đi hóa sinh đến cõi Trời Qủa-Thật tương ưng với Tứ-thiền Sắc-giới). Các vị Trời ở Quang-Âm Thiên sống rất lâu dài là 8 A-Tăng-Kỳ (1 A-Tăng kỳ = 1 Kiếp = 16,798,000 năm, sẽ giải thích cách tính sau, ở mục các đại tai họa).

Các vị Trời ở cõi Quang-Âm Thiên khi thọ mạng và hành nghiệp đã hết, họ chết đi ở đó, và hóa-sinh đến cõi Trời Không-Phạm (Phạm-Thiên), tức là sinh đến cõi Trời khác thấp hơn (cõi Phạm-Thiên tương ưng với Sơ-thiền Sắc-giới).

Bấy giờ vị Phạm-Thiên (vị Trời ở cõi Không-Phạm) hóa-sinh ra đầu tiên tự nghĩ: “Ta là Đại Phạm-Thiên, tự nhiên mà có, không ai tạo ra ta. Ta có thể thấu suốt được tất cả nghĩa lý, rất được tự-tại, và vi diệubậc nhất. Ta trước đây chỉ có một mình, và do sức ta mà có chúng-sanh, ta tạo ra chúng-sanh”. Vì trước đây ta nghĩ: “Phải chi có những chúng-sanh khác được ra đời, thì ta vui biết mấy! Và sau đó có những chúng-sanh sinh ra, tuổi thọ của ta sống lâu hơn các chúng-sanh sinh ra sau, do đó ta là bậc nhất, hơn hết tất cả”.

Đồng thời những vị Phạm-Thiên hóa-sinh ra sau tại cõi Trời Không-Phạm cũng tự nghĩ: “Vị ấy là Đại Phạm-Thiên, không do ai sinh ra và tự nhiên có. Vị ấy thấu suốt các nghĩa lý, rất được tự-tại, có thể tạo ra, và có thể hóa ra. Vị ấy vi diệu bậc nhất và đáng tôn kính bậc nhất, vị ấy sống lâu hơn chúng ta; trước chỉ có vị ấy, sau mới có chúng ta, vị ấy đúng là đấng tạo ra chúng ta”.

Tất cả chúng-sanh tại cõi Trời Không-Phạm đều tùy theo phúc nghiệp đã tạo ra trước kia mà được qủa báo là:

– Đại Phạm-Thiên:

Vi diệu, đẹp đẽ, uy nghi, tự tại, hạnh phúc, có ánh sáng cực kỳ rực rỡ; vị Đại Phạm-Thiên ví như vua có các vị Phạm-Thiên thân cận, và Phạm-Chúng-Thiên bao quanh. Tuổi thọ của Đại Phạm-Thiên là một 1 Tiểu kiếp rưỡi = 16,798,000 + 8,399,000 = 25,197,000 năm của trái đất.

– Phạm-Thiên:

Là những vị Trời thân cận Đại Phạm-Thiên, kém vị Đại Phạm-Thiên một chút, ví như các vị quan đại-thần; các vị Phạm-Thiên sống lâu một Tiểu kiếp = 16,798,000 năm của trái đất.

– Phạm-Chúng-Thiên:

Là các vị Trời tùy tùng các vị Phạm-Thiên, cũng có đầy đủ thần thông, nhưng không bằng các vị Phạm-Thiên; Phạm-Chúng-Thiên sống lâu một nửa Tiểu kiếp = 16,798,000 / 2 = 8,399,000 năm của trái đất.

Những chúng-sanh ở cõi Phạm-Thiên tuỳ theo thọ mạng và hành nghiệp hết, qua đời, và sinh đến trái đất (thế-gian) này.

Các chúng-sanh sinh đến thế-gian này khi mặt trời và các hành-tinh được cấu thành và ổn cố rồi, tức là mới thành lập (lập Địa); hoặc được thành lập trở lại sau khi bị hủy hoại (tái lập Địa) bởi một trong ba đại tai họa, đó là đại Hỏa tai, đại Thủy tai, hoặc đại Phong tai (sẽ trình bày ở một mục sau). Khởi đầu, các chúng-sanh này đều do hóa-sinh mà ra, không phải là một chúng-sanh được hóa sinh ra đời, mà là nhiều chúng-sanh được hóa sinh ra tùy theo thọ mạng hết tại cõi Trời Không-Phạm. Có thể là các chúng-sanh khởi đầu ấy hóa sinh ra không cùng một lúc, và không do chúng-sanh trước sinh ra chúng-sanh sau.

Các chúng-sanh đầu tiên ấy: không cần chúng-sanh khác nuôi nấng dạy bảo trông nom, mà có thể tự lực sinh sống; họ lấy niệm thực để ăn, nghĩa là lấy sự vui vẻ, thanh tao, nhàn tản làm thức ăn. Nói đúnghơn, như thức ăn ngày nay, họ không cần ăn uống mà vẫn sống phây phây, không thấy đói khát, lại luôn luôn mạnh khỏe, thật sung sướng vô cùng.

Trên thân thể họ phát ra ánh sáng, soi chiếu khắp chung quanh. Họ có thể nhìn thấy rõ ban đêm cũng như ban ngày. Họ có thần-túc-thông đi, bay trên hư không chớp nhoáng, nhẹ nhàng, an lạc, tự-tại, vô ngại, suốt ngày đêm vui vẻ bay nhảy đùa rỡn với nhau thỏa thích. Họ không cần ăn uống, không cần làm việc chi cả, cuộc sống vô cùng thanh tao nhàn hạ; họ muốn đi đâu thì đi, muốn nghỉ thì nghỉ, muốn ngủ thì ngủ, luôn luôn thoải mái chẳng có gì là mệt nhọc buồn phiền cả.

Bấy giờ không có nam nữ phân biệt vì hình dạng giống như nhau, mọi chúng-sanh đều đẹp tuyệt vời; không có tôn ty trên dưới, ai cũng như ai, bình đẳng hoàn toàn, không ai động chạm tới ai vì không có gì để tranh giành cả. Không có tuổi tác, không có trẻ già, tất cả chúng-sanhđều tươi trẻ như nhau; không có tên gọi khác nhau, khi nói chuyện thì nói ta, ngươi, chúng-sanh này, chúng-sanh kia, chúng ta, chúng ngươi v.v…

Thế-gian này chỉ có nhiều chúng-sanh (Người) hóa-sinh ra, nên gọi là chúng-sanh; các chúng-sanh sống cuộc sống an nhàn thoải mái, không có sự tham lam, không có sự giận hờn, không có đẹp xấu, hơn thua, phải trái, yêu ghét, đói no v.v.., nghĩa là không có bất cứ một tranh cãi phiền não, dù đó là sự tranh cãi phiền não nhỏ bé của ngày nay.

Các chúng-sanh sống cuộc sống đẹp đẽ như thế một thời gian khá lâu dài, rồi đại Địa (qủa đất lớn) này tự nhiên có nước xuất hiện, nước ngưng tụ trên mặt đất và nước có vị ngon như nước đề hồ; những chúng-sanh ấy thấy nước xuất hiện, thì sinh tâm thắc mắc, bèn hỏi nhau: “Đây là cái gì, đây là vật gì, ta chưa thấy cái lạ này bao giờ, cái này ở đâu ra?”

Những chúng-sanh ấy tự nghĩ: “Không biết cái này ra sao, nó có mùi gì, nó có vị gì?” Nghĩ như thế, họ bèn lấy ngón tay chấm rồi ngửi thì chẳng có mùi gì cả. Họ lại lấy ngón tay chấm nước đề-hồ cho vào miệng nếm thử. Sau khi nếm, họ thấy ngon họ gọi cái ấy là “Nước” và họ khen:

“Cái này ngon, nước này ngon quá!”

Những chúng-sanh khác thấy khen ngon, cũng bắt chước làm theo, họ dùng ngón tay chấm nếm thử. Lúc đầu nếm thử, họ cũng thấy ngon, liền sinh tâm đắm nhiễm, cứ chấm nếm hoài không thôi; dần dầntâm ưa thích càng tăng, họ dùng cả bàn tay bốc để ăn, những chúng-sanh khác trông thấy thế, cũng bắt chước lấy tay bốc ăn. Càng ăn, tâm đắm nhiễm càng nhiều, nên họ bốc ăn mãi liên tiếp, và họ cứ tiếp tục ăn mãi như thế không biết chán.

Trải qua một thời gian không lâu, thân thể của chúng-sanh trở nên nặng nề, thô kệch, không còn mềm mại, và không còn bay trên hư không được nữa, mà phải đi trên đất. Trên thân mình chúng-sanh mất dần ánh sáng, và không còn nhìn rõ trong đêm tối được nữa. Những chúng-sanh ấy bắt đầu than van về việc thân họ mất ánh sáng và mất nhẹ nhàng, nhưng họ vẫn giữ tâm ưa thích vị nước và họ không ngừng dùng tay bốc nước để ăn uống.

Sau một thời gian lâu dài như thế, rồi nước tự nhiên biến mất (vì nước ngấm vào đất, chảy xuống các chỗ thấp xa xôi, và bốc thành hơi), các chúng-sanh dùng ngón tay bới đất tìm nước. Không tìm thấynước, chúng-sanh nếm (ăn) thử đất có thấm nước, nhão mềm như bùn, và cảm thấy cũng ngon; họ bèn ăn đất nhão mềm ấy, và gọi đó là “Vị đất”. Chúng-sanh khác thấy khen ngon cũng lấy tay bốc vị đất ăn. Những chúng-sanh nào ăn nhiều vị đất thì nhan sắc trở nên xấu xí, những chúng-sanh nào ăn ít vị đất thì nhan sắc còn tươi đẹp; lúc đó chúng-sanh bắt đầu sinh tâm phân biệt về nhan sắc, dung mạo, đẹp xấu. (Trường A-Hàm, Q2, từ504 đến 512)

Có chúng-sanh nói:

– Ta đẹp.

Có chúng-sanh nói:

– Ngươi xấu.

Chúng-sanh sống một thời gian như thế, rồi dần dần đất khô cứng lại, không còn vị đất mềm nữa; bấy giờ chúng-sanh bắt đầu buồn rầu than thở mà nói: “Khổ thay, khổ thay, đây là tai họa, tại sao vị đất bỗng nhiên mất đi như thế?”

Sự kiện ấy cũng giống như ngày nay người ta có đầy đủ thức ăn ngon, thì người ta nói: “Ngon quá, ngon quá!”, nhưng sau đó thức ăn ngon ấy bỗng dưng hết không còn nữa, họ lấy làm nhớ tiếc, buồn rầu; những chúng-sanh nhớ tiếc vị đất, cũng buồn rầu như thế, từ đó chúng-sanh bắt đầu sinh tâm buồn phiền.

Khi đất khô cứng lại, trên mặt hình thành một lớp vỏ mỏng như cái bánh ngày nay (cũng giống như ngày nay mỗi khi có nước lụt lớn, nước đục lẫn đất tràn vào đồng ruộng; sau khi hết lụt lội, nước bốc hơi cạn đi, đất trở nên khô cứng, đồng ruộng nứt nẻ, có một lớp đất mỏng ở trên mặt), không có vị đất, chúng-sanh bèn bóc lấy lớp đất ấy để ăn, và họ gọi là “Vỏ đất”. Dần dần họ cảm thấy ăn vỏ đất cũng có mùi vị và ngon miệng. Trong số đó những chúng-sanh nào ăn nhiều nhan sắc trở nên xấu xí hơn, những chúng-sanh nào ăn ít thì còn giữ được tươi đẹp. Chúng-sanh tranh cãi nhiều hơn về dung mạo nhan sắc, có chúng-sanh nói:

– Ta đẹp hơn ngươi.

Có Chúng-sanh nói:

– Ngươi xấu hơn ta.

Có chúng-sanh nói:

– Chúng-sanh này đẹp hơn chúng-sanh kia.

Về sau có thứ nấm mọc từ đất xuất hiện, nấm có màu sắc đẹp, mềm mại; chúng-sanh thấy vật lạ xuất hiện thì thắc mắc hỏi nhau: “Đây là cái gì, đây là vật gì, cái này trông lạ qúa, ta chưa thấy vật này bao giờ, nó là cái gì? v.v…”

Họ bèn lấy tay sờ thấy mềm, họ bèn cầm cây nấm kéo lên rồi ăn thử, họ thấy ngon ngọt và có mùithơm vị ngon hơn vỏ đất; họ gọi vật ấy là “Nấm đất”, vì nó mọc từ đất lên. Họ nói cho những chúng-sanh khác biết như thế, chúng-sanh khác nghe nói cũng làm theo.

Từ bấy giờ chúng-sanh thôi ăn vỏ đất và cùng nhau ăn nấm đất. Trong số đó, những chúng-sanh nào ăn nhiều nhan sắc trở nên xấu hơn nữa, những chúng-sanh nào ăn ít nhan sắc còn giữ được tươi đẹp. Các chúng-sanh sinh tâm phân biệt tranh cãi đẹp xấu nhiều hơn, có chúng-sanh nói:

– Sắc đẹp của ngươi kém sắc đẹp của ta.

Có chúng-sanh nói:

– Ta đẹp, ngươi xấu, sắc đẹp của ta hơn sắc đẹp của ngươi.

Có chúng-sanh nói:

– Ngươi xấu hơn ta nhiều, ngươi xấu qúa, tại sao ngươi xấu thế?

Có chúng-sanh nói:

– Chúng-sanh này đẹp, chúng-sanh kia xấu, tại sao thế?

Chúng-sanh sinh tâm hơn kém, ôm lòng cạnh tranh càng ngày càng tăng; họ sống như thế một thời gian khá lâu, rồi tự nhiên nấm đất dần dần ít đi; chúng-sanh thấy nấm đất ít đi, họ tụ tập lại mà than vãnvới nhau, một chúng-sanh hỏi:

– Tại sao tôi không thấy có nhiều nấm đất như trước kia?

Các chúng-sanh khác đều trả lời:

– Tôi không biết tại sao.

Có chúng-sanh nói:

– Bây giờ chúng ta phải đi xa để tìm kiếm nấm đất mà ăn.

Nhiều chúng-sanh nói: “Khổ thay, khổ thay, đây là tai họa cho chúng ta, tại sao nấm đất càng ngày càng ít đi như thế?”

Thế là họ rủ nhau đi chỗ xa tìm kiếm nấm đất để ăn, đang khi nấm đất ít dần đi như thế và các chúng-sanh đều lo lắng không có đủ nấm đất để ăn, tự nhiên có một số loại cây có hạt xuất hiện như lúa gạo, lúa mì, lúa mạch v.v…

Các chúng-sanh thấy các cây có hạt xuất hiện nên ngạc nhiên vô cùng, họ không biết những thứ ấy từ đâu mà sinh ra; các loại cây này sinh ra nhiều hạt không có vỏ cứng, chúng-sanh thấy thế thì lấy ăn thử, họ ăn thấy bùi bùi, ngon ngon, lại có mùi thơm. Họ bèn lấy các hạt ấy để ăn và bảo nhau cùng ăn. Do nhân duyên này nên có tên “Hạt gạo, hại mì. hạt mạch, v.v..”. Từ lúc bấy giờ, chúng-sanh cùng nhau lấy hạt để ăn, họ ăn hạt trong một thời gian không lâu, thân hình trở nên thô xấu hơn, phát triển nẩy nở mạnh mẽ.

Bắt đầu từ lúc bấy giờ, các chúng-sanh có hai loại thân hình sai khác nhau, nên mới có danh từ: “Chúng-sanh Nam (đàn ông), chúng-sanh Nữ (đàn bà)”. Con Người bắt đầu thành hình rõ rệt và phát triển từ đấy, các chúng-sanh nam lạ lùng về hình dáng khác biệt của các chúng-sanh nữ, phái nữ lạ lùng về sự sai khác hình dáng của phái nam. Các chúng-sanh phái này thích nhìn chúng-sanh phái kia, họ nhìn nhau, và nhìn nhau không biết chán, họ nhìn nhau mãi không thôi. Rồi chúng-sanh phái này bắt đầu sinh tâm thích thú, lưu luyến phái kia, và chỉ muốn gần gũi nhau; họ thích nhìn ngắm (vướng mắcvề Sắc) vuốt ve (vướng mắc về Xúc chạm) những thứ khác lạ của nhau, và họ bắt đầu thích nói chuyện (vướng mắc về Thanh), khen ngợi lẫn nhau. (Trung A-Hàm, quyển 3, từ 526 đến 532)

Tưởng (ý nghĩ) dục (dâm dục) từ đó phát sinh, chúng-sanh nam và chúng-sanh nữ cùng nhau tìm chỗ kín đáo hay chỗ không có chúng-sanh khác để được tự do nhìn ngắm, nói chuyện, ôm ấp, vuốt ve, và làm điều bất tịnh (làm tình). Những chúng-sanh khác thấy thế, bèn nói: “Than ôi! Đó là việc sai trái, tại sao chúng-sanh nam này cùng với chúng-sanh nữ kia làm việc dâm dục xấu xa như thế?”

Danh từ “Ôm ấp, vuốt ve, dâm dục, làm tình” bắt đầu có từ đó; những chúng-sanh nam làm việc bất tịnhdâm dục ấy thấy chúng-sanh khác quở trách thì ăn năn và nói: “Việc làm của tôi là sai quấy, tôi đã làm việc xấu xa, tôi đáng khiển trách”.

Tức thì chúng-sanh nam ấy gieo mình xuống đất không đứng dậy nữa, chúng-sanh nữ thấy thế thì lo chúng-sanh nam ấy đói, nên bèn đi lấy hạt (thức ăn) đem đến cho ăn, chúng-sanh khác thông thấy hỏi:

– Ngươi mang thức ăn này đi đâu?

– Chúng-sanh nam kia vì ăn năn về việc làm bất tịnh của mình, nên gieo thân xuống đất không chịu đứng dậy, tôi sợ hắn đói nên tôi đem thức ăn đến cho hắn.

Từ đây các chúng-sanh đã có đủ năm dục (Ngũ dục: Sắc, thanh, hương, vị, và xúc). Về sau chúng-sanh càng ngày càng tham đắm làm việc dâm dục nhiều hơn, và muốn che kín để tránh sự nhòm ngó của chúng-sanh khác, nên họ mới tìm đến chỗ kín đáo như nơi hang hốc, gò đống, hoặc tạo ra ngăn che riêng biệt kín đáo. Bởi nhân duyên ấy nên mới có danh từ: “Hang ổ, chỗ kín đáo, chỗ riêng biệt, chỗ ở, túp lều, nhà, v.v…” và gọi chúng-sanh nam, chúng-sanh nữ ở chung làm việc dâm dục là “Nhân tình, chồng vợ”.

Từ lúc đó, những chúng-sanh khác tại cõi Trời Phạm hết mạng sống, hoặc hết hạnh nghiệp, hoặc hết phúc báo nên chết tại đó sinh đến thế gian này, nhưng không còn là hoá-sinh nữa, mà ở trong bào thai của chúng-sanh nữ. Nhân đó mới có danh từ: “Có thai, có chửa, có bầu, bào thai, đẻ con, sinh con, con trai, con gái v.v…”, từ đây bắt đầu đặt tên cho con khi mới sinh đẻ ra, và người nam nữ sống chung có con là một ”gia đình”.

Cũng cần ghi nhận rằng: từ khi các loại cây có hạt vỏ mềm xuất hiện, chúng-sanh lấy hạt để ăn, khi hạt lấy đi rồi, những hạt khác lại sinh ra. Sáng lấy chiều lại có, chiều lấy sáng hôm sau có, vì vậy nên lấy hoài, ăn hoài không hết; họ sống một thời gian như thế khá lâu rất thoải mái.

Bỗng có chúng-sanh tự nghĩ: “Nếu mỗi ngày đều đi lấy hạt thì nhọc công quá, nay ta nên lấy gấp hai để ăn trong hai ngày”. Sau khi nghĩ như vậy rồi, chúng-sanh ấy bèn đi lấy đủ số lượng hạt để ăn trong hai ngày, “Tâm tham” bắt đầu phát sinh từ đây. Khi chúng-sanh nọ đến rủ đi lấy hạt, thì chúng-sanh ấy nói:

– Ta đã lấy hạt đủ để ăn trong hai ngày rồi, không cần đi lấy nữa, ngươi muốn đi tuỳ ý.

Chúng-sanh nọ nghe nói thế, bèn nghĩ: “Chúng-sanh ấy đã lấy hạt để ăn trong hai ngày, sao ta không lấy hạt để ăn trong ba ngày?” Nghĩ như vậy rồi, liền đi lấy hạt đủ dự trữ ăn trong ba ngày.

Cũng như thế ấy, có chúng-sanh kia đến gặp chúng-sanh nọ và nói:

Chúng ta hãy cùng đi lấy thực phẩm (hạt) để ăn,

Chúng-sanh nọ nói:

– Ta đã lấy thực phẩm đủ để ăn trong ba ngày rồi, ngươi tuỳ ý đi lấy.

Chúng-sanh kia nghe xong tự nghĩ: “Ngươi đã lấy dự trữ ăn trong ba ngày, ta sẽ lấy nhiều hơn, ta sẽ lấy dự trữ ăn trong năm ngày”. Chúng-sanh kia bèn đi lấy hạt đủ ăn trong năm ngày, tất cã chúng-sanh đều sinh tâm “tranh đua” nhau tích trữ hạt như thế, và càng ngày càng gia tăng mãi lên.

Sau một thời gian như thế, tự nhiên các loại hạt sinh ra “có vỏ cứng, có trấu” không ăn được ngay mà phải bỏ vỏ đi mới ăn được. Khi hạt lấy đi rồi, những cây ấy không còn sinh ra những hạt khác nữa, đồng thời các loại cỏ: cỏ lăn, cỏ lác, v.v… xuất hiện, mọc đầy cả.

Lúc đó, chúng-sanh gặp nhau kêu than, buồn rầu, họ ôm bụng tự than nói:

“Khổ thay, đây là tai họa, biết làm sao bây giờ? Chúng ta trước kia đều là hóa-sinh, không cần ăn uốnggì cả, chỉ lấy sự rong chơi, nhàn tản đó đây làm vui vẻ thỏa thích (được tự tại). Trên thân chúng ta phát ra ánh sáng, nên nhìn khắp tất cả không trở ngại đêm cũng như ngày (Có hào quang). Chúng ta lại bay trên hư không, được an lạc, tự tại, vô ngại (Có thần túc).

 Rồi sau nước xuất hiện như nước đề hồ, chúng ta thắc mắc muốn biết là vật gì (khởi ý niệm đầu tiên) nên dùng ngón tay chấm quệt cho vào mũi ngửi (khởi ý niệm thứ hai), rồi cho vào miệng nếm thử (khởi ý niệm thứ ba). Khi nếm thử thấy vị lạ, ngon (dính mắc vào vị), chúng ta liền sinh ra ưa thích, và nếm mãi không ngưng; lòng tham đắm càng ngày càng tăng lên, nên dần dần chúng ta dùng tay bốc để ăn cho được nhiều (tâm tham khởi sinh). Chúng ta bốc ăn mãi như thế không thôi. Rồi thân chúng ta không còn mềm mại nữa, mà trở nên thô kệch, nặng nề (vì có nước trong thân), không còn bay trên hư không được nữa (nặng nề qúa).

 Sau một thời gian nước đề hồ dần dần biến mất, chúng ta phải ăn vị đất (vì cần phải có một cái gì trong bụng). Khi vị đất không còn, chúng ta ăn vỏ đất. Rồi nấm đất có mùi thơm và vị ngọt xuất hiện, chúng taăn nấm đất (dính mắc hương vị); trải qua mỗi thời kỳ, thân hình chúng ta càng ngày càng trở nên thô kệch xấu xí hơn, tâm trí chúng ta càng ngày càng cạnh tranh hơn thua về nhan sắc đẹp xấu (mà sự thực thì nhan sắc càng ngày càng xấu đi).

 Từ khi các loại cây có hạt xuất hiện, chúng ta lấy hạt ăn mà không cần làm gì cả, hạt lấy đi rồi hạt khác lại sinh ra. Buổi sáng lấy buổi chiều các hạt mới sinh chín, buổi chiều lấy sáng hôm sau các hạt mới sinh chín, sẵn sàng để lấy ăn. Vì sự đua nhau lấy hạt cất giữ của chúng ta (phát sinh lòng tham), nên các loạihạt lấy đi, các hạt mới không sinh ra nữa; tệ hại hơn nữa các hạt sinh ra có vỏ, có trấu, không ăn hạt ngay được, mà phải bỏ vỏ, bỏ trấu đi rồi mới ăn được”.

Chúng-sanh cùng nhau suy nghĩ về các khó khăn ấy, và bảo nhau phải tìm cách bỏ vỏ đi, và tự gieo trồng để có hạt mà ăn; họ thỏa thuận với nhau việc phân chia đất ra từng ô để mỗi người tự trồng trọt trên phần đất của mình, từ đó danh từ “Ruộng rẫy, trồng trọt, v.v…” được nói đến, và có lời nói “Của ta, của ngươi”.

Họ cùng nhau gieo trồng chăm sóc để lấy hạt mà ăn, cuộc sống cũng tạm ổn; sau một thời gian yên lành như thế, có một số người sinh tâm dối trá (khởi tâm dối trá), họ giấu hạt của mình, và đi lấy hạt của người khác; tính gian dối bắt đầu từ đấy, những người bị mất trông thấy người khác lấy hạt của mình nói:

– Ngươi làm sai, ngươi làm quấy, tại sao ngươi giấu hạt của mình, rồi đi lấy vật thực của ta, từ nay ngươi không được lấy trộm nữa.

Từ đó có danh từ “Cất giấu, vật thực, dối trá, trộm, cắp” bắt đầu được nói đến, nhưng những người có tâm dối trá ấy vẫn tiếp tục làm điều xấu như trước, họ lại trộm cắp; khi bắt được kẻ trộm cắp, những người bị mất trách:

– Ngươi làm điều xấu xa, tại sao ngươi không bỏ việc đi trộm cắp?

Họ dùng tay đánh người trộm cắp, rồi cầm tay lôi kéo người ấy đến chỗ có nhiều người mà nói lớn lên rằng:

– Người này giấu vật thực của mình và đã trộm cắp của tôi hai ba lần.

Kẻ trộm thì nói:

– Người này đánh vào lưng tôi nhiều lần bằng tay, người này đánh đau tôi!

Lúc ấy các người khác nghe hai người nói thế, sinh lòng buồn rầu, lắc đầu, nói: “Thế-gian này dần dầntrở nên độc ác, có phải đây là ác pháp sinh chăng?”

Từ đó phát sinh ra các danh từ “Lôi kéo, đánh đập, ác độc, v.v…” Con người từ đấy sinh lòng buồn khổ về việc này, rồi tiếp đến việc khác. Từ lòng buồn khổ ấy kết (tạo) thành qủa báo khổ não, các khổ nãobuồn phiền là nguồn gốc của “sinh già bệnh chết”, và các việc làm bất thiện là nhân để đọa sinh vào các cõi ác.

Từ khi ruộng đất được phân chia, chỗ ở tạo ra riêng biệt, và từ khi có kẻ sinh tâm tham lam, giấu giếm vật thực của mình, trộm cắp, dành giật vật thực của người khác. Con người cãi lộn, nói xấu, giằng co, thậm chí đi đến đánh nhau và tìm cách giết nhau, các việc không tốt như thế xảy ra hàng ngày càng nhiều hơn lên, họ không sao tự giải quyết được; họ bèn thảo luận và thỏa thuận với nhau rằng họ cần một người có đủ khả năng để trông coi phân xử mọi việc xảy ra cho họ.

Bấy giờ, trong chúng-sanh có người hình vóc to lớn, khoẻ mạnh, dung mạo đoan chính, nói năng từ tốn phải lẽ, trông rất uy nghi, và có đức độ; mọi người thấy thế bèn đến nói với người ấy:

– Như ông biết ngày nay có nhiều việc không tốt đẹp xảy ra hàng ngày, chúng tôi thấy ông là người tốt, mạnh khoẻ, có đủ khả năng làm người trông coi, và phân xử các việc xảy ra. Chúng tôi muốn tôn ông lên làm người trông coi phân xử công bằng, khen người làm việc tốt, chê bai trừng phạt kẻ làm việc xấu v.v…; vậy ông khéo giúp đỡ mọi người, chúng tôi mỗi người sẽ bớt ra một số vật thực để tặng ông.

Người ấy nghe xong thấy hay, bèn chấp nhận làm người trông coi phân xử; từ đó, mới có danh từ “người trông coi phân xử, người có trách nhiệm giữ trật tự chung, người đại diện dân, v.v…” Về sau các việc giải quyết càng ngày càng nhiều, nên cần có người phụ giúp; những người có trách nhiệm trông coiphân xử ấy được tổchức thành nhiều người có một người đứng đầu chỉ huy, nên từ đó có những danh từ mới được nói đến như “Người trông coi, người đứng đầu, người lãnh đạo, chúa, vua v.v…”.

Tóm lại, những người sinh ra đầu tiên trên trái đất này đều từ cõi Phạm-Thiên sinh đến bằng hóa-sinh, nghĩa là không có ai sinh đẻ ra , hay một vị nào tạo ra cả, mà là chết từ cõi Phạm-Thiên rồi sinh đến cõi này bằng hóa sinh. Những người mới hóa-sinh ra không cần đến người khác nuôi nấng chăm sóc, bế bồng mà vẫn sống được một mình; vì dù mới sinh ra, nhưng họ không cần ăn uống như trẻ mới sinh ngày nay. Cũng không phải là chỉ có một người được hóa sinh ra, mà là nhiều người cùng hóa sinh ra, nhưng cũng có người hóa sinh ra trước, kẻ hóa sinh ra sau, tuỳ theo hạnh nghiêp, phúc báo, và mạng sống ở cõi Trời Không-Phạm đã hết chết đi, sinh đến cõi này. Cũng vì mọi người đều được hóa sinh ra như thế, nên không có cha mẹ, không có ai đặt tên cho, nên mọi người đều có cái tên chung gọi là chúng-sanh.

Chúng ta không thấy nói tới hình hài của những người đầu tiên ấy, nhưng chắc là có thân hình trong vắtnhư pha lê(?), mềm mại, nhẹ nhàng, có ánh sáng phát ra, nên bay đi tới lui dễ dàng. Khi bốc nước ăn uống thì dần dần thân hình trở thành căng phồng lên giống như bơm nước vào bong bóng(?), con người trở thành thô cứng, nặng nề, không còn nhẹ nhàng để bay được nữa, nhưng vẫn còn trong đẹp. Đến khi ăn bùn, ăn đất, cho đến ăn nấm đất, con người trở thành có màu giống màu bùn đất(?) xấu xí. Và khi tới giai đoạn ăn các hạt, con người mới thực sự phát triển, nẩy nở các cấu trúc của cơ thể

Những người đầu tiên ấy sống từ lúc lập Địa, hay tái lập Địa, họ sống từ lúc hóa sinh ra tại trái đất này cho đến khi chết trung bình khoảng 84,000 (tám mươi tư nghìn) năm; họ sống rất lâu, rất thọ như thế, (họ thọ gấp một trăm linh (lẻ) năm lần ông Bành-Tổ mà người ta thường nói đến chỉ sống khoảng 800 năm mà thôi).

Chắc rằng có một số người không tin rằng những con người sinh ra đầu tiên trên trái đất này lại sống lâu như vậy. Người không tin cũng giống như người vừa sinh ra đã bị mù mắt không thấy được các màu sắc khác nhau như thế nào, nên khi có người nói với người mù ấy về sự khác biệt giữa các màu sắc trắng xanh vàng đỏ đen tím nâu v.v., thì người mù ấy không tin, không tưởng tượng nổi sự khác biệt giữa các màu sắc, và nói rằng làm gì có các màu sắc khác nhau như thế.

Vậy những con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất này từ lúc lập Địa hay tái lập Địa đến bây giờ, phải là bao nhiêu triệu năm? Về điểm này sẽ được nói tới ở phần lời bàn nơi cuối đề tài này, trước đây, người ta đã phát giác ra những kiến trúc nhà cửa ở dưới đáy Đại-Tây-Dương rất là lâu đời rồi; mới đây, với sự tiến bộ của con người, các nhà Khoa-học khám phá ra những bộ xương hóa đá chôn vùi dưới đất của loài tương tự cá sấu gọi là SuperCroc mà các nhà cổ sinh vật học Pháp đã đặt cho chúng cái tên khoa học Sacosuchus imparator cách nay vài chục năm. Những con vật này có chân dài ba thước nhưng sống trên cạn, có niên kỷ cách nay 110 triệu năm, chúng sống đồng thời với những con vật Khủng long, và những con Titanosaurus.

Các nhà khoa học còn cho rằng Nam Mỹ-châu đã tách rời khỏi Phi-châu cách nay khoảng 70 triệu năm, vì họ tìm thấy các bộ xương hóa đá của cá sấu cùng loại tại Patagonia thuộc Argentina (Nam Mỹ châu) và Madagasca thuộc Phi-châu.

Nhưng xa hơn thế rất nhiều, các nhà Khoa-học Đức lại khám phá ra vỏ loài Sam biển hóa đá, nó đã xuất hiện trên trái đất với niên kỷ là 330 triệu năm rồi, thành ra sự truy nguyên về qúa khứ của các nhà khoa-học vẫn còn chưa rõ ràng.

Về sau, tuổi thọ của con người giảm xuống, có những thời kỳ tuổi thọ tăng lên, có những thời kỳ tuổi thọ giảm xuống, và bây giờ tuổi thọ trung bình của con người quá ngắn ngủi, khoảng 75 tuổi (Phật lịch: năm 2629, Dương lịch: năm 2006). Tuổi thọ của con người tuỳ thuộc vào ý nghĩ và hành động của con người. Ý nghĩ này không phải là ý nghĩ muốn sống lâu mà được, mà là ý nghĩ những việc thật thà, đạo đức, hay ý nghĩ gian dối lừa đảo, mưu mô độc ác. Ý nghĩ là đầu mối của hành động, ý nghĩ bằng tâm (óc, bộ não), hành động bằng thân (đầu, mình, tay chân và các bộ phận phụ thuộc thân) và khẩu (mồm miệng). Tâm nghĩ, thân làm, miệng nói, miệng cũng thuộc về thân, nên mới nói “Tâm nghĩ thân hành”(thân làm).

Nói chung là tâm thân hành của đa số con người tạo nên cộng nghiệp, cái cộng nghiệp này nó dẫn dắt tuổi thọ trung bình của con người, còn cái biệt nghiệp của mỗi người nó sẽ dẫn dắt chính người đó. Ví như ngày nay có người sống chín mươi tuổi, nhưng cũng có người chỉ sống năm mươi tuổi v.v… mà thôi.

Từ những niệm tham, sân, si dẫn dắt ý khẩu thân hành động, đưa đến qủa báo khổ não là sinh già bệnh chết, và đọa sinh vào sáu cõi; nghiệp báo trói chặt con người trong sáu nẻo phải đi qua, đó là: “Các cõi Trời, cõi Người, cõi A-tu-La (Thần), cõi Ma-Qủy, cõi Súc-sanh, và cõi Địa-ngục”.

Con người cứ thế sinh ra, già đi, bệnh tật, chết đi, trải dài theo thời gian lên bổng xuống chìm, tuỳ theo ý thân hành thiện hay ác của mỗi người, đó là tạo nghiệp; nghiệp dẫn dắt ta như hình với bóng không sao thoát ra khỏi, ngoại trừ những vị tu hành đạt đạo thì mới ra khỏi vòng luân hồi luẩn quẩn ấy mà thôi.

Đến đây: chúng ta không thấy nói tới vạn vật cây cỏ bắt đầu xuất hiện trên trái đất này từ lúc nào? Các loại cỏ thì được nói đến ngay khi các loại cây có hạt có vỏ có trấu xuất hiện thì các loại cỏ đồng thờixuất hiện, và có lẽ các loại cây khác cũng với thời gian sau đó dần dần xuất hiện; riêng về các loài vật thì không thấy đề cập tới, nhưng nhận thấy con người từ khi tạo nghiệp báo, sinh khổ não đi đến già bệnh chết, rồi sinh vào sáu cõi khác nhau tùy theo ý khẩu thân hành việc lành dữ. Do đó các loài súc vậtvới thời gian sau đó dần dần xuất hiện trên trái đất này, còn những con vật đầu tiên của mỗi loài được sinh ra bằng cách nào? Người viết chưa được đọc về điểm này, nhưng được biết trong thiên nhiên cả thảy có bốn loại sinh, đó là:

– Hóa sinh:

Chúng-sanh đột nhiên mà có, bỗng nhiên xuất hiện, không qua giai đoạn phôi thai nào cả. Những chúng-sanh thuộc loại hóa sinh thường là vô hình như chư vị Trời, A Tu La, Ngạ-qủy v.v… và những người đầu tiên như đã nói ở trên.

Lại có những loài biến hóa sinh ra từ một loại khác như ve, bướm v.v… Loại này đời trước hay thay đổi lòng dạ, trước sau nói khác nhau, cố làm cố phạm. (Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, trang 22)

– Noãn sinh:

Là những chúng-sanh sinh từ trong trứng gồm có: Loài có lông vũ như gà, chim, loài bò sát như rùa, rắn, và loài sống với nước như cá; loại này, đời trước tham lam, mưu mô lừa đảo, kế hoạch cao thì làm chim, kế hoạch sâu thì làm cá. (Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, trang 21)

– Thai sinh:

Là những chúng-sanh sinh từ bào thai như người và các loài thú, đời trước tham đắm dâm dục; tham dục phải đạo thì làm người, tham dâm ngang trái thì làm thú bốn chân đi ngang.

– Thấp sinh:

Là những chúng-sanh sinh từ nơi ẩm ướt như vài loài côn trùng, muỗi mòng, vi khuẩn, vi trùng, gạo ẩm sinh mọt, cỏ mục sinh đom đóm, lúa sinh sâu… Đời trước tham ăn thịt uống rượu, lấy việc đánh đập, gây gỗ, ồn ào làm vui.

Trong quyển Đạo Phật và Khoa Học, trang 167, có thêm chi tiết như sau: “Noãn, Thai, Thấp, Hóa sinhđều lấy cái định nghiệp mà tương cảm nhau, cho nên cái định báo của chúng-sanh cũng tùy theo chỗ cảm mà ứng. Như loài sinh trứng thì ứng theo loạn tưởng mà sinh. Loài sinh thai thì ứng theo tình ái mà sinh. Loài Thấp sinh thì ứng theo hiệp mà sinh, tức là nương phụ với thấp khí. Loài Hóa sinh thì ứng theo Ly mà sinh, tức là bỏ đây tới kia. Xong , tình, tưởng, hiệp, ly trong bốn giới ấy vốn không nhất định, hoặc tình biến làm tưởng, hiệp biến làm ly, hoặc đổi làm tình, hoặc thấp đổi làm hóa. Vậy tùy nghiệp thọbáo, cũng có thứ bay mà trở lại làm thứ lặn, cũng có thứ lặn mà trở thành làm thú bay, như cá hóa rồng; đại để những truyện kỳ quái như vậy rất nhiều, thay hình đổi xác, quay lộn luôn luôn; vì thế, chúng-sanh có hoài không dứt”.

Trong quyển Thiền Đốn Ngộ do Hòa-Thượng Thích-Thanh-Từ dịch năm 1974, phần Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, trang 146 lại ghi: “Vô minh là noãn sinh, phiền não bao bọc ở trong là thai sinh, nước ái đượm nhuần là thấp sinh, chợt khởi phiền não là hóa sinh (từ loài này hóa sinh loài khác)”.

Ta thấy là con người có mặt trên trái đất này trước các loài thực vật và các loài động vật. Nhưng những con vật đầu tiên thuộc loại noãn sinh và thai sinh trên trái đất này từ đâu mà có? Con gà, con chim, con rùa v.v… có trước hay cái trứng gà, trứng chim, trứng rùa có trước, nếu những cái trứng có trước, cái gì sinh ra những cái trứng đầu tiên ấy? Người viết thiển nghĩ rằng những con vật đầu tiên ấy cũng là do hóa sinh mà ra. Kể cả những loài thai sinh cũng giống như vậy mà thôi.

Về nòi giống: chúng ta không thấy nói tới, đại loại trên thế giới này có mấy trăm nước và có rất nhiều tiếng nói khác nhau, ngay trong một nước cũng có nhiều thứ tiếng nói khác nhau, tại sao thế? Có lẽ rằng những nhóm chúng-sanh đầu tiên khi hóa sinh đến cõi này, ở những vùng cách biệt nhau nên phát sinh ra tiếng nói khác nhau; lại nữa, trên thế-giới này có những người da trắng, những người da vàng, những người da đen, tại sao vậy?

Có người muốn làm vui cho người khác, nên nói: “Thuở khai sinh lập địa, khi Thượng-Đế sinh ra con người bằng cách: Ngài nặn hai con người, một nam một nữ, xong Ngài bỏ hai con người ấy vào lò đốt lửa nung, lúc ấy Ngài ngủ quên nên không lấy ra kịp thời, khi nhớ ra hai người ấy đã bị cháy đen thui. Ngài bèn nặn hai người khác, rồi bỏ vào lò nung, lần này vì sợ cháy đen như lần trước Ngài lấy ra sớm qúa, nên trông còn trắng bệch. Thượng-Đế vẫn chưa vừa ý, nên nặn thêm hai con người nữa, Ngài tự nhủ, lần này Ta phải canh chừng để lấy ra cho đúng cho vừa ý, và qủa thật lần này Ngài nung được hai con người có nước da vàng vàng, không đen cũng không trắng đúng theo ý, Ngài nói: Thế là được rồi.

 Bởi lẽ đó chúng ta mới có những người anh cả da đen, những người anh hai da trắng, và những người thứ ba da vàng. Ba cặp nam nữ này đã sinh con đẻ cháu nảy nở ra nhân loại trên trái đất này từ ngày đó đến ngày nay!”.

Trong những sự giải thích có lẽ lý do địa dư ảnh hưởng đến màu da con người, vì sau thời kỳ khai Thiên lập Địa hay tái lập Địa, trái đất trơ trụi. Những con người đầu tiên chịu biết bao khổ cực với thiên nhiên, phải dầm mưa dãi nắng bỏng cháy khét thân thể đầu tóc đối với con người sống ở vùng Xích-đạo như Phi-Châu, Ấn-Độ, Nam Mỹ. Con người phải chịu cái lạnh thấu xương tại vùng Bắc-Cực, Nam-Cực, mặt trời chiếu tới rất ít. Những khí hậu khác biệt ấy đã tạo nên màu da khác biệt của con người tiền sửvà truyền lại nhân loại hiện tại (?)

Mặt khác, nên để ý rằng những chúng-sanh sinh ra đầu tiên không phải được sinh ra tại một nơi hay một vùng, mà đã được sinh ra ở nhiều nơi khác nhau trên mặt địa cầu này; ngoài ra, các chúng-sanh sinh tới cõi Quang âm Thiên trước kia có lẽ đã từ nhiều nơi (nhiều thế-giới) khác nhau hóa sinh tới đó, về sau các chúng-sanh hóa sinh đến cõi Phạm Thiên cũng có thể từ nhiều nơi khác nhau tới và sau khi chết đi đã sinh đến trái đất này; những điều trên đây có thể giải thích những sự khác biệt của các chủngtộc khác nhau tại thế-gian này.

Một điểm nữa được suy ra là trong thời kỳ đầu tiên của con người, chưa có phát minh ra lửa, nên chỉ là ăn sống không có thức ăn nấu nướng chín. Có lẽ sau đó có những vụ cháy rừng do các loại cỏ cây khô, con người mới biết tới lửa. Chưa có các đồ dùng như nồi niêu bát đĩa, chén đũa dao thớt v.v.., mà phải dùng hai bàn tay. Chỗ ở chỉ là hang ổ lều nhỏ thô sơ để trú thân, mà vật liệu là rơm rạ cỏ cây. Cũng không có quần áo che thân, mà phải dùng cỏ lá rơm rạ bó kết lại che thân. Thức ăn chỉ là ăn các loạihạt, lá, hoa qủa v.v… từ thực vật mà thôi.

Được biết, để giúp chúng sanh sống còn và tăng trưởng, ta thấy có bốn cách ăn như sau:

– Đoàn thực:

Ăn từng miếng, từng nắm, từng cục. Đây là cách ăn của loài người và các loài vật.

– Xúc thực:

  Ăn bằng tiếp xúc, xúc chạm, như Quỷ Thần tiếp xúc với vật thực thì đủ no; cũng gọi là Cảnh lạc thực, như quần áo, hương hoa, cùng thiên nữ vui vầy khiến vui no đủ.

– Niệm thực:

Cũng gọi là Tư thực, ăn bằng ý suy nghĩ, tư tưởng, các cõi Trời Sắc-giới lấy thiền định, hỷ lạc làm vị ăn.

– Thức thực:

Ăn bằng thức phân biệt, niệm hiểu, ý biết; các tầng Trời vô Sắc-giới và chúng-sanh trong Địa-ngục đều lấy thức duy trì sinh mạng. (Trường A-Hàm, quyển 2, trang 402).

Về sau, sống với hoàn cảnh, cọ sát với thực tế, dần dần trải qua thời gian lâu dài, con người đã khám phá, phát minh và tạo ra rất nhiều thứ để làm cho cuộc sống được tốt đẹp hơn về vật chất; còn vấn đềtinh thần đạo đức mà ai cũng biết là cần thiết, nhưng phần lớn chỉ được dàn dựng lên bằng những lớp vỏ bề ngoài hào nhoáng, mà thực ra bên trong có nhiều vụ lợi, thiếu chân thật. Con người càng ngày càng có mưu thâm độc sâu, kế hiểm ác cao, nên nghiệp qủa càng ngày càng sâu dày nặng nề vậy. (Tạp A-Hàm, Q 2, trang 70: Bốn cách ăn)

LỜI BÀN: Tuổi thọ tối đa của con người:

“Thế nào là kiếp đao binh? Nghĩa là con người ở thế gian này vốn sống 40,000 (bốn vạn) tuổi, sau đó giảm dần còn sống hai vạn tuổi, và tiếp tục giảm xuống còn một vạn tuổi, một ngàn tuổi, năm trăm tuổi, ba trăm tuổi, hai trăm tuổi. Như ngày nay con người sống trăm tuổi, tăng ít, giảm nhiều; nhưng về sau, tuổi thọ con người giảm dần, chỉ còn 10 (mười) tuổi là dừng lại”.

Quyển Đường Về Bến Giác của Hòa-Thượng Thích-Thanh-Cát, trang 78 ghi: “Theo luận Trí Độ thì người ta thọ từ 10 tuổi, cứ trăm năm lại tăng một tuổi, cứ tăng mãi cho tới khi nào thọ 84,000 tuổi mới thôi…”; theo quyển Nhị Khóa Hiệp Giải thì lại lấy 80,000 năm là tuổi tối đa để tính ra Kiếp và Đại kiếp, như vậy chúng ta không chắc chắn tuổi thọ tối đa của loài người là bao nhiêu.

Tuy nhiên trong sách này người viết cũng phải lấy con số 84,000 năm làm tuổi tối đa (như quyển Đường Về Bến Giác đã ghi) để tính số năm của kiếp, đại kiếp. Nếu sau này có sự khám phá ra số tuổi thọ tối đa của con người có sự khác biệt với con số tối đa 84,000 năm nêu trên, thì số năm trong một kiếp, trung kiếp, đại kiếp, v.v… của sách này phải thay đổi theo.

LỜI BÀN: Tuổi thọ con người có đang giảm xuống không?

Ngày nay khoa học đang tiến bộ, kể cả ngành Y khoa mà ai cũng thấy; vậy mà đạo Phật lại nói ngày nay đang vào thời kỳ giảm tuổi thọ dần dần cho tới 10 tuổi thọ, vậy liệu có đúng không? Thật là khó trả lời rõ ràng, nhưng chúng ta thấy rằng:

1)- Hồi đức Phật còn tại thế, tuổi thọ trung bình là 100, đến nay đã 25 thế kỷ, 100 năm giảm một tuổi, tức giảm đi 25 tuổi. Chắc mọi người cũng đồng ý là tuổi thọ trung bình của con người bây giờ là 75, vì hồi ấy có người sống 120, 130 và cho đến 140 tuổi mà ngày nay không thể có.

2)- Hiện tại tuổi thọ trung bình là 75 tuổi, nhưng vẫn có người sống 100 tuổi hay hơn nữa, thế thì khi tuổi thọ giảm xuống còn 50 tuổi vẫn có người sống tới 70 hay 80, khi tuổi thọ giảm xuống còn 25 tuổi vẫn cóngười sống tới 40 hay 50 tuổi v.v…

3)- Mặc dù khoa học tiến bộ, nhưng vì chính những cái tiến bộ đã làm ô nhiễm bầu khí quyển và môitrường sinh sống của con người; chính những hệ thống đông lạnh, máy lạnh đã làm hoại dần vòng o-zone của bầu khí quyển che chở cho trái đất. Chính những nhà máy, xe cộ các loại tỏa khói độc hạibuồng phổi con người. Chính những chất hóa học thải ra từ việc làm ra cái này cái nọ đang thải vào các dòng sông và lan dần cùng khắp mặt địa cầu tác hại đến sức khỏe con người và muôn vật. Như các loài vật ăn, loài cây cối hấp thụ, loài cá sống trong các chất hóa học, chất độc, rồi con người ăn thịt loài vật, loài cá hay rau qủa ấy thì sẽ sinh bệnh. Chính các lò nguyên tử là nguồn gốc thải dần những phóng xạ đến khắp mọi nơi v.v…, do đó, phần lớn những việc làm có tính cách tiến bộ để phục vụ con người lại là nguồn gốc của sự hại mạng sống lâu dài của con người. Đó là chưa kể đến các tai nạn xảy ra nhiều hơn lên, các tai họa thiên nhiên xảy ra ngày càng nhiều hơn, các cuộc chiến tranh thường xảy ra trên thế giới tăng lên, nhất là chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra gây chết chóc nhiều hơn cho lớp người trẻ tuổi làm cho tuổi thọ trung bình giảm xuống.

4)- Đồng ý rằng y khoa tiến bộ rất nhiều, nhưng thử hỏi ngành y tế có thể đương đầu với những tai hạido tiến bộ khoa học kể trên không? Bởi vì mỗi ngày sinh ra bệnh mới có thể do những thứ nêu trên gây ra, mà chúng ta không thể tiên đoán trước được.

5)- Con người càng ngày càng bôi bác gian dối, mưu trí tệ hại, giết người vui thích, huà với nhau bắt nạt kẻ yếu, hại người ngay trong vui thích. Tỉ như muốn có quyền lợi, thương lượng không được, bèn dùng mưu kế dàn dựng nên tội, rủ kẻ khác cùng nhau hiệp lực thanh toán, mặc cho máu có đổ, xương có chất thành núi đi nữa vẫn vui vẻ v.v…; như vậy thì làm sao mà tuổi thọ không giảm?

LỜI BÀN: Khi nào Phật Di-Lặc ra đời?

Một số người đang chuẩn bị đón Phật Di-Lặc ra đời, thật là tức cười, họ chính là người đang mò trăng đáy nước; quyển Nhị Khóa Hiệp Giải ghi: “Trong Hiền kiếp này, tức trong Trung kiếp Trụ này, hiện nay đang ở kiếp thứ 9, tới kiếp thứ 10 , khi mà giảm xuống đến thuở con người còn sống được 8 vạn tuổi là đức Phật Di Lặc ra đời”. Nguyên tắc tính số năm là thời kỳ đang giảm tuổi thọ (ở kiếp thứ 9 này) từ thời Phật Thích-Ca, con người sống trung bình 100 tuổi. Bây giờ, sau 2550 năm (tính từ khi Phật nhập Niết-Bàn), con người trung bình sống 75 tuổi thọ, cứ 100 năm giảm một tuổi. Như vậy số năm cần thiết để giảm xuống tới 10 tuổi thọ là: (75 – 10) x 100 = 6500 năm. Số năm cần thiết để tăng tuổi thọ con người(cũng ở kiếp thứ 9) từ 10 tuổi lên 84,000 là: (84,000 – 10) x 100 = 8,399,000 năm. Số năm cần thiết để giảm tuổi thọ từ 84,000 xuống còn 80,000 (ở kiếp thứ 10) là lúc Phật Di-Lặc ra đời là: (84,000 – 80,000) x 100 = 400,000 năm. Cộng ba con số năm trên, chúng ta có thể biết đức Phật Di-Lạc sẽ ra đời vào khoảng : 6500 + 8,399,000 + 400,000 = 8,805,500 (tám triệu tám trăm linh (lẻ) năm nghìn năm trăm) năm nữa.

LỜI BÀN: Khi nào tận thế?

Không khó khăn để biết ngày tận thế mà nhiều người đã qúa lo lắng, nhất là những người ngoại đạo, không biết họ nghe lời tiên đoán từ đâu mà họ cho rằng năm 2000 Dương lịch vừa rồi là tận thế; tội nghiệp! Họ đã lo lắng cùng cực, cầu nguyện ngày đêm, cho đến khi chẳng thấy gì xảy ra cả! Để biết rõ ngày tận thế, chúng ta thử làm con toán:

– Trước hết chúng ta đã có con số năm từ nay đến hết kiếp thứ 9 này là 6500 + 8,399,000 = 8,405,500 năm như trên đã tính.

– Từ kiếp thứ 10 đến hết kiếp thứ 20 của Trung kiếp Trụ này là 11 kiếp nữa thì bắt đầu vào thời kỳ Hoại của trái đất, chứ không phải hoại của mặt trời, mỗi kiếp là (84,000 – 10) x 100 x 2 = 16,798,000 năm; như vậy số năm trong 11 kiếp là 16,798,000 x 11 = 184,778,000. Do đó số năm để trái đất này sẽ chết (tạm thời, vì sẽ tái lập địa) là vào khoảng: 8,405,500 +184,778,000 = 193,183,500 (một trăm chín mươi ba triệu một trăm tám mươi tư nghìn năm trăm) năm, vì đại tai sẽ trình bày ở một mục sau.

Toàn Không

 

7+ Ý Nghĩa Của Kinh Chú Đại Bi Ít Người Biết Và Ứng Dụng

0

Mấy ai trong chúng ta có thể lĩnh hội hết hết ý nghĩa của kinh chú đại bi, hôm nay hình động phật giáo xin mạn phép lạm bàn về 88 hình ảnh minh họa cho từng ý nghĩa của chú đại bi

1) Nam Mô Hắt Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da: Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm ứng.
2) Nam Mô A Rị Da: Quan-Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng hành.
3) Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da: Quán-Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường thọ.
4) Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng sanh.
5) Ma Ha Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.
6) Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da: Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự đô tự tha.
7) Án: Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh giác.
8 ) Tát Bàn Ra Phạt Duệ: Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng ma.
9) Số Đát Na Đát Tỏa: Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo thiện.
10) Nam Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma oán.


11) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng sanh.
12) Nam Mô Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an lạc.
13) Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế: Quán Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác thú.
14) Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng sanh.
15) A Thệ Dựng: Quán Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng ác.
16) Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già: Quán Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có duyên.
17) Ma Phạt Đạt Đậu: Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng thiện.
18) Đát Điệt Tha: Quán Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng sanh.
19) Án A Bà Lô Hê: Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban vui.
20) Lô Ca Đế: Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng sanh.
21) Ca Ra Đế: Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng sanh.
22) Di Hê Rị: Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng sanh.
23) Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa: Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu hành.
24) Tát Bà Tát Bà: Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng sanh.
25) Ma Ra Ma Ra: Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường thọ.
26) Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc quốc.
27) Cu Lô Cu Lô Yết Mông: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.
28) Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma oán.
29) Ma Ha Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu hành.
30) Đà La Đà La: Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp chấp.
31) Địa Rị Ni: Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai họa.
32) Thất Phật Ra Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng.
33) Giá Ra Giá Ra: Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục tùng.
34) Mạ Mạ Phạt Ma Ra: Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắt đại cát tường.
35) Mục Đế Lệ: Quán Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắt Phật quả.
36) Y Hê Y Hê: Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận tùng.
37) Thất Na Thất Na: Quán Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân gian.
38) A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi: Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự tại.
39) Phạt Xa Phạt Xâm: Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại Tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng sanh.
40) Phật Ra Xá Da: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Phật.
41) Hô Lô Hô Lô Ma Ra: Quán Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng ma.
42) Hô Lô Hô Lô Hê Rị: Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn thiên.
43) Ta Ra Ta Ra: Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm trở.
44) Tất Rị Tất Rị: Quán Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ sanh.
45) Tô Rô Tô Rô: Quán Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích: quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy đủ.
46) Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ: Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng sanh.
47) Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng sanh.
48) Di Đế Rị Dạ: Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an lạc.
49) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác đạo.
50) Địa Rị Sắc Ni Na: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng sanh.
51) Ba Dạ Ma Na: Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ sanh.
52) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ sanh.
53) Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả pháp.
54) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng sanh.
55) Ma Ha Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ sanh.
56) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng sanh.
57) Tất Đà Du Nghệ: Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn thiên.
58) Thất Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên Mãn
59) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.
60) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Tiểu-thừa.
61) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng sanh.
62) Ma Ra Na Ra: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng sanh.
63) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giầy cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.
64) Tất Ra Tăng A Mục Khê Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng sanh.
65) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng sanh.
66) Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng sanh.
67) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Độ.
68) Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma oán.
69) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán hận.
70) Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng sanh.
71) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an lạc.
72) Na Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai nạn.
73) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh không.
74) Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp giới.
75) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu hành.
76) Nam Mô Hắc Ra Đa Ra Dạ Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh tấn.
77) Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công hạnh.
78) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khến chúng sanh khai ngộ.
79) Thước Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh không.
80) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh không.
81) Án Tất Điện Đô: Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh không.
82) Mạn Đà Ra: Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh không.
83) Bạt Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh không.
84) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh không.

Tội Tự Sát Trong Đạo Phật – Nghiệp Oán 3 Đời Trả Không Hết

0

Tự sát cũng là có tội, hơn nữa còn là hành vi phạm tội không hề nhỏ.
Một số người khi cảm thấy bản thân mình không còn con đường để sống, họ chọn tự sát để thoát khỏi hiện thực, nhưng theo thuyết Pháp của người xưa, tự sát cũng là có tội, hơn nữa còn là hành vi phạm tội không hề nhỏ.

Chứng kiến một vụ tự tử, người đời thường chép miệng: “Tội nghiệp!” ngỏ ý tiếc thương con người vì lâm vào ngõ cụt cuộc đời mà phải tìm đến cái chết. Nhưng người tự tử có đáng thương hay không, điều này Phật giáo lý giải khác hoàn toàn với suy nghĩ đời thường.

Dưới âm phủ cự tuyệt uống thuốc mê, nhớ rõ các lần chuyển sinh của mình

Lưu Hiếu Liêm là một cổ nhân có thể nhớ được những kiếp trước mà ông đã trải qua, ông từng nói rõ ràng rành mạch những gì đã xảy ra ở kiếp trước của mình. Ông kể rằng ông đời trước là một thân sĩ, vì hành vi sai trái nên năm 62 tuổi thì bị chết.

Sau khi chết ông đã gặp Diêm Vương, Diêm Vương rất khách khí, nắm bắt được ông là một người có danh vọng ở trần gian, nên đầu tiên là ban tặng chỗ ngồi, sau là châm trà mời ông. Sau khi ông ngồi xuống, nhìn thấy trà trong chén trà của Diêm Vương, sắc thanh trong suốt, mà chén trà của mình lại vẩn đục giống như rượu. Ông thầm nghĩ trong lòng: “Chắc đây là thuốc mê?, ông quyết định không uống nên đã tranh thủ lúc Diêm Vương không để ý mà đổ trà xuống dưới gầm bàn, làm bộ như đã uống cạn.

Nghiệp báo các đời do tự sát

Đời thứ nhất chuyển sinh làm ngựa, tuyệt thực mà chết

Đợi một lát, Diêm Vương tra xét thấy vị thân sĩ này khi còn sống đã hành ác, giận dữ, lệnh cho đám quỷ kéo ông xuống, phạt chuyển sinh thành ngựa, sau đó một ác quỷ kéo lấy tay ông lôi đi, vào một gia đình. Cổng nhà họ rất cao, không dễ để bước qua, lúc ông ta còn đang do dự thì ác quỷ dùng sức đánh ông thật mạnh, khiến ông ngã nhào trên đất đau điếng.

Nhìn lại, ông đã thấy mình đang ở trong chuồng ngựa, tai nghe thấy có người nói: “Con hắc mã đã đẻ con rồi, là con đực đấy”, trong lòng ông đã sáng tỏ mọi chuyện, nhưng không thể nói được, nhất thời thấy quá đói bụng nên đã lại gần con ngựa mẹ để bú sữa.

Trải qua tầm gần 5 năm, ngựa con đã phát triển cường tráng, nhưng nó rất sợ bị đánh, cứ nhìn thấy cây roi là bỏ chạy. Chủ nhân khi cưỡi nó thường kê một cái yên dầy, chậm rãi đi, nó còn thấy mình đỡ khổ. Nhưng những lúc đám nô bộc trong nhà hay người cho ngựa ăn mà cưỡi nó, đều không kê yên lót, hai chân kẹp chặt rồi quất nó chạy, thật sự là nó thấy rất đau nhức. Nó vì bực tức quá, nên đã tuyệt thực ba ngày mà chết.

Đời thứ hai chuyển sinh thành chó, vì cắn chủ nhân mà bị đánh chết

Thế là nó quay trở lại âm phủ, Diêm Vương tra xét nó thấy chưa hoàn trả hết kỳ hạn phạt mà đã trốn tránh nên lệnh cho tiểu quỷ lột sạch da nó và phạt nó gửi hồn vào làm chó, nó cảm thấy rất hối hận, không muốn đi gửi hồn.

Rất nhiều tiểu quỷ liền đánh đập nó, vô cùng đau nhức, nó bỏ chạy đến một nơi hoang dã, nó nghĩ: “Chết đi còn tốt hơn”, nó phẫn nộ liền lao đầu xuống núi, ngã không dậy được, nó tự nhìn lại mình, hóa ra nó đã ở trong chuồng chó. Một con chó cái đang dùng lưỡi mà liếm nó, nó mới phát hiện ra rằng mình đã lại gửi hồn vào mà làm thân chó rồi.

Sau khi gửi hồn làm chó, chẳng mấy chốc nó đã trưởng thành, thấy phân và nước tiểu cũng biết là bẩn, nhưng dùng cái mũi mà ngửi thì lại thấy thơm, dù thế nó vẫn hạ quyết tâm không ăn. Khi nó đã được 1 năm tuổi, thường thấy phẫn uất muốn chết, nhưng lại sợ chưa hết thời gian chịu phạt thì tội lại tăng thêm một cấp nữa, mà người chủ này lại nuôi nấng chứ không giết nó, không tìm thấy biện pháp nào khác, nó liền cố ý cắn chủ, làm chủ nhân bị mất da lộ cả xương, chủ nhân giận dữ, liền đem nó đi giết.

Đời thứ ba chuyển sinh thành xà, vẫn tìm đến cái chết

Nó lại một lần nữa quay trở lại âm phủ, sau khi Diêm Vương xét hỏi xong, thấy nó quá điên cuồng, lệnh cho tiểu quý đánh nó mấy trăm gậy, phạt nó gửi hồn làm xà. Diêm Vương nhốt nó vào trong phòng kín, suốt ngày không thấy mặt trời, nó cảm thấy buồn bực liền theo tường mà leo lên, rồi cố tạo ra một cái lỗ mà chui ra ngoài. Nó lại tự thấy mình đang ở trong một bụi cỏ, đã biến thành một con xà, từ đó về sau hạ quyết tâm không giết hại sinh linh, đói thì ăn trái cây.

Khi nó đã trở thành con xà được hơn một năm, nó hàng ngày đều nghĩ:“Tự vẫn là không thể được, hại người đến chết cũng không được, làm sao có thể có được một cái chết tốt nhất đây?”. Một hôm, nó đang chui vào trong bụi cỏ thì nghe thấy có tiếng chiếc xe đi qua, nó quyết định chui ra và nằm chặn trên đường xe, kết quả bị bánh xe chèn qua, khiến thân thể nó bị đứt thành hai đoạn, rồi nó chết.

Đột nhiên bị chết, chuyển sinh thành Lưu Hiếu Liêm

Nó lại một lần nữa quay trở lại âm phủ, Diêm Vương rất kinh ngạc, sao mà nó lại nhanh trở về như thế? Nó khổ sở phủ phục trên đất trình bày, Diêm Vương nghe xong, cho rằng đây là vô tội mà bị chết, nên khoan dung độ lượng với nó, cho phép nó phục sinh thành người, chính là Lưu Hiếu Liêm thời xưa.

Lưu Hiếu Liêm sinh ra là biết nói chuyện, sách vở xem qua là có thể thuộc lòng, giữa năm Tân Dậu đỗ cử nhân, ông thường khuyên mọi người: “Khi cưỡi ngựa phải kê yên dày để làm đệm lót, nếu không ngựa bị hai chân của người cưỡi kẹp lại còn đau hơn là bị quất roi đấy.”

Có lẽ là Thượng Đế thông qua Lưu Hiếu Liêm để nói với mọi người, con người làm điều ác thì nhất định sẽ phải hoàn trả, dù có tự sát cũng không thoát được, chỉ có trả hết tội nghiệp của mình mới có một chốn trở về tốt.

Người Chết Bao Lâu Thì Được Đầu Thai – Hành Trình Qua 7 Cửa

0

Trước hết xin được khẳng định chuyện sống, chết, đầu thai tái sinh luân hồi là một chủ đề nội dung cốt tủy liên quan đến hầu hết mọi vấn đề trọng yếu của thuyết giáo nhà Phật. Luân hồi làm cho ta sống không rơi vào tuyệt vọng, hết mọi cơ hội nhưng cũng không để ta ảo vọng tìm được ở đây một hạnh phúc trường cửu vĩnh hằng.

Đầu thai là gì ?

Chu kỳ sống chết, đầu thai tái sinh nhân duyên là câu trả lời thỏa đáng nhất cho những lắt léo số phận đời sống của mỗi con người khác nhau trên thế gian, nếu phủ nhận chu kỳ này thì toàn bộ giáo lý Phật giáo sẽ không còn gì để ta quan tâm nữa. Tuy nhiên, sống chết, đầu thai như thế nào? Tại sao cũng vẫn là những người rất tin tưởng và đang thực hành giáo lý và có những hiểu biết uyên thâm về Phật giáo lại nói khác nhau ở một vài điểm làm cho người quan tâm cảm thấy khó xử. Hiện tại quan điểm về thời gian một chúng sinh đi đầu thai như thế nào có 3 quan điểm giải thích được nêu ra như sau:

– Việc đầu thai xảy ra trong tức khắc, gần như không có giai đoạn trung chuyển lửng lơ nào dù chỉ trong khoảnh khắc cực ngắn. Luôn đã có sẵn một chỗ phù hợp cho bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào trong ba cõi sáu đường trong một vũ trụ có vô vàn tiếp điểm phù hợp.

– Việc đầu thai xảy ra trong khoảng 49 ngày, khoảng thời gian này đủ để thần thức tìm được nơi tái sinh phù hợp với nghiệp dẫn dắt, đủ để người chết nhận biết mình đã thực sự qua đời còn người sống thì tiến hành các nghi thức chia tay, tiễn đưa, cầu cúng hỗ trợ cho người chết.

– Việc đầu thai xảy ra trong thời hạn vô định cho đến khi thần thức của người chết tìm được một thân xác mới phù hợp để giải quyết các duyên nợ ân oán…thời gian có thể hàng năm, hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm và hơn nữa…

Điểm lại những quan điểm nêu trên để thấy dường như mỗi vấn đề nêu ra cũng chứa những điều bất cập nhất định, ta cùng xem với mỗi một điều nêu ra như vậy sự bất cập nằm ở chỗ nào.

Việc đầu thai xảy ra trong tức khắc. Như vậy dòng năng lượng sống không hề bị gián đoạn, nó tiếp tục ngay cuộc hành trình với một mầm sống khác luôn có sẵn, ngân hàng mầm sống này là vô biên giống như một bãi đất hoang rộng lớn bạn vừa thực hiện san ủi xong ít ngày lập tức cây cỏ mọc lên đồng loạt mà không cần phải có người làm động tác gieo trồng. Điều này không có gì phi lý. Nhưng, dòng nhân quả chi phối đời sống con người vốn vô cùng phức tạp, một đời sống mới, một thân xác mới, một điều kiện sống mới hay một cảnh giới mới tất cả đều phải phù hợp với quán tính nghiệp thúc đẩy phù hợp nhân duyên tái sinh, phù hợp nguyện lực người mấp mé ngưỡng lâm chung. Sự tiếp nối phải được liên tục không có dấu hiệu đứt gãy rối loạn. Với những thảm họa hàng chục ngàn con người bất thần chết cùng một lúc liệu có sẵn ngay hàng chục ngàn con đường đi để tiếp nối vào. Đành rằng chỉ riêng trong cái vũ trụ mênh mông này đã có vô vàn cái thế giới có thể là nơi đến của sự sống, nhưng những mối nhân duyên đan xen vô cùng phức tạp của mỗi cá nhân trong cái thế giới này vẫn được giải thích rằng sẽ níu kéo chúng ta rất mạnh bỗng đứt tung hết hay sao? Những câu chuyện đầu thai trở lại của những người đã mất vào lại gia đình dòng họ hay những câu chuyện ân oán truyền kiếp phải bỏ ra ngoài những điều đáng tin bởi nó phải hội đủ 3 điều kiện trong cùng 1 lúc, khoảnh khắc người mất trùng với lúc có 2 người nam nữ giao phối không những vậy nó còn phải chính xác với thời điểm tinh trùng gặp trứng để một mầm sống có thể bắt đầu, sự hy hữu ấy vẫn chưa đủ bởi ít nhất một trong hai người nam và nữ phải có một mối liên hệ nhân duyên đặc biêt mạnh mẽ nào đó với người vừa mất, như vậy bài toán xác suất đầu thai cho phù hợp với các tình tiết lâm ly gần như không thể xảy ra.

Việc đầu thai xảy ra trong khoảng 49 ngày.

Thoạt tiên ta thấy nó phù hợp bởi tính logic về diễn tiến thời gian, có lẽ nó phù hợp với tư duy làm gì thì cũng có sự chuẩn bị, sắp xếp mới được. Người sống và người chết cùng biết mình phải làm những gì rồi tiến hành các bước cho phù hợp. Có một lời khuyên rằng khi chết đừng đụng vào thân thể hoặc di chuyển người chết trong một số tiếng đồng hồ để thần thức hoàn toàn thoát ra ngoài, rồi cứ mỗi 7 ngày thân trung ấm lại chết đi sống lại cho đến khi hết 49 ngày thần thức mới tìm được nơi gá vào có đủ điều kiện phù hợp cho mình đầu thai.

Như đã nói ở trên, thoạt tiên đây được coi là một cái chết có thể nói là hoàn hảo nhưng thực tế không có được cho nhiều người. Với người chết tai nạn ngoài đường thi thể họ phải nhanh chóng được đưa ra khỏi hiện trường, người chết trong bệnh viện sẽ phải di chuyển sau khi các thủ tục hoàn tất, người chết trong chiến tranh, thảm họa thiên nhiên hay nhiều trong trường hợp khác nữa, làm sao họ nhận được sự hỗ trợ của những người xung quanh theo các bước đã được tính toán chuẩn bị, những nghi thức tâm linh dẫn dắt họ trong khoảnh khắc bước từ thế giới này sang thế giới khác.

Đối chiếu với một số tài liệu mô tả lúc thần thức nhập thai cũng có một vài điều làm ta suy nghĩ: Như vậy có đến hai, ba hay bốn thần thức cùng nhìn thấy cha mẹ giao phối và cùng nhập vào để rồi thành những người anh em sinh đôi, sinh ba, sinh tư chưa kể sinh ra nhưng dính đầu hoặc bụng, lưng với nhau, thậm chí chỉ có một cơn quan chung quan trọng nào đó. Những người cùng chết trong một tai nạn máy bay ngoài việc nhìn thấy thân xác của mình tan nát kinh hoàng, liệu những người đã chết có cùng nhìn thấy nhau trong lúc như vậy và có an ủi gì được nhau không.

Việc đầu thai xảy ra trong thời hạn vô định. Điều này chủ yếu làm đè nặng lên tâm lý người thân còn sống, nó không làm nguôi ngoai đi được những lo lắng cho người đã khuất nếu việc đầu thai không được giải quyết trong một thời hạn nào đó. Liệu có một thế giới nào đó các vong linh cứ luẩn quẩn mãi bị giam hãm ngột ngạt khổ sở mà không tìm được đường ra, không tìm thấy cơ hội được đầu thai về một cảnh giới phù hợp hay không.

Nếu chúng ta tin vào tái sinh đầu thai nhưng không thể biết được nó sẽ kéo dài trong bao lâu thì tựa như nỗi lo lắng trường hợp người thân bị mất tích không thể biết được khi nào tìm thấy và lo lắng rất lớn cho cả chính mình. Những cố gắng thực hiện các nghi thức nhằm hỗ trợ vong linh người đã khuất phần nhiều chỉ an ủi mỗi người chúng ta rằng mình đã làm hết khả năng chứ không mang lại một cam kết chắc chắn nào. Nhà ngoại cảm có khả năng liên hệ tiếp xúc được với các vong linh đã mất sau rất nhiều năm buộc ta phải thừa nhận thời hạn 49 ngày không phải là bất di bất dịch. Nhiều nhà ngoại cảm liên hệ được với những người đã chết cách đó hàng chục năm hoặc lâu hơn, chuyện nhảm nhí về ngoại cảm thì nhiều vô kể nhưng không thể nói hoàn toàn như vậy, nhiều người thực hiện thành công nhiều lần giữa một đám đông hồ nghi và làm thay đổi cả định kiến của đám đông ấy thì việc ta không thừa nhận là một sự cố chấp giữ ý kiến của mình.

Hành trình qua 7 cửa để đầu thai

Nhiều người nghĩ sai rằng:

– Chết là hết. Thực ra mỗi người có phần Xác ( phần vật chất đã mất khả năng chuyển hóa sống mà để bị Thiên nhiên phân hủy, để trôn lại hay rắc trên Đất, được người còn sống xử lý theo cách của họ ) và Hồn ( phần phi vật chất gồm Vong + Linh, mang nguyên trạng tinh thần từng sống của họ đi qua 7 cửa dưới đây, do Diêm Vương xử lý, từ Cửa 3 đến Cửa 7, người còn đang sống tuyệt đối không can dự được )

– Sau khi chết. Xác càng nhanh hoàn nguyên trở về vật chất ban đầu ( nguyên tử, cát bụi ) càng tốt , Hồn càng ít bị hấp sinh, hấp vật níu kéo, càng ít bị u ám, ít phải nhập thêm nỗi niềm nhân sinh, cầu khẩn của người thân mà bước vào Cửa 3 ( bắt đầu từ nơi đó chỉ chính Hồn họ chịu trách nhiệm về bản thân – khi không nhuốm thêm muộn phiền của kẻ khác thì nhẹ hơn mà dễ giải quyết hoàn chỉnh chuyện riêng của mình )

– Thể hiện trách nhiệm với kẻ được họ sinh ra bằng cách nuôi nấng, dạy dỗ, hay để lại tài sản là được mà không biết rằng : điều ý nghĩa lớn nhất là không để kẻ đó phải nhận trách nhiệm thay về những hậu quả xấu của mình để lại cho họ ( Nợ Đời ). Phần ‘hữu ích’ người sống thực được hưởng từ người đã chết, chỉ thuần túy là những điều ‘Tốt’ họ được XH thừa nhận như thế nào, đến bao lâu mà thôi ( từ Cửa 1 đến Cửa 3 )

– Cứ người chết là ai cũng có thể thiêng mà báo mộng, cũng có khả năng phò tá, trợ giúp, tiên lượng cho những người còn sống ( mà sống hay mới chết thiêng ). Nói chung nên trợ giúp giải thoát nhẹ nhàng cho người vừa chết ở Cửa 1 đến Cửa 3. Thực ra khi sống không ra gì, gây thù chuốc oán thì Hồn càng luẩn quẩn quanh xác, cùng người còn sống vương vấn thì càng làm người sống bị lụy hơn mà thôi

– Nhầm lẫn mà cho rằng ai cũng có thể đầu thai lại như kiếp trước, ai cũng nhận Nhân Quả một cách trực tiếp vào thân phận chính họ như họ từng cảm / hay tin như khi còn sống. Có Nhân Quả ngắn / dài, có Nhân Quả truyền đời…đặc biệt Nhân Quả ở chỗ họ sẽ siêu thoát được bao nhiêu phần, phần còn lại bị đầu thai lại ra sao. Hiểu được điều đó khi ngẫm nghĩ kí về 7 Cửa dưới đây.

Ngay sau khi chết, người ta phải đi qua 7 Cửa Tử:

Cửa 1 :

Cửa Xã hội bình xét công tội với đời để Hồn nặng hay nhẹ ra đi thanh thản được hay không, vì những thời gian sống vừa qua phần xác đã chứa nó và vì nó, có báo nợ Trần Ai ? Nợ nhiều Hồn u ám sinh Vong nhiều hơn

Cửa 2 :

Cửa ý mình được những kẻ thân đang sống liệu có làm đúng theo ý nguyện không, hay là mình chẳng ra gì mà kẻ sống không muốn nghe lời, hay vì bọn họ vì những mưu tính vị kỷ, âm u mê hủ mà bất chấp làm càn. Nếu không Hồn sẽ Ám

– Cửa 3 :

Cửa Bến đò, ở đó có điều Tín Quý gì ( thuyết phục, cảm hóa được cả Ma Quái ) thế chấp được để nhận được vé bước qua ? Nếu không thì những người thân của họ đang sống sẽ phải nhận ‘oan chướng’

Từ Cửa 1 đến Cửa 3 Hồn còn vương vấn Trần Ai : Oán đến Nghiệt càng rũ bỏ được nhiều càng tốt.

– Cửa 4 :

Cửa vào khoang Thuyền , cục oán nghiệt còn lại trước đó nếu vẫn to quá thì một phần Hồn của họ sẽ bị kéo lê trên mặt nước lạnh tuyệt đối. Mất một phần khả năng chuyển hóa, thanh minh và bình xét khi đến Cửa 5.

– Cửa 5 :

Cửa trình Diêm Vương, Hồn phải giải trình về những này nọ, những dấu diếm, khuất tất khi còn sống. Diêm Vương chỉ nghe không hỏi, những điều duy nhất làm Ngài tức là họ sống giả, tùy theo mà Giám Quan của Ngài đeo vào cổ Hồn 1 cục ‘Ngợm’

– Cửa 6 :

Hồn bị ném vào lò nung. Cục ‘Ngợm’ và phần tối của Hồn gọi là Vong vón cục cặn, được Địa Sứ, mang sang Cửa 7, tùy chất mà phải đầu thai lại. Phần sáng là Linh hóa hơi bay lên được Thiên Sứ chờ sẵn thu vào Hồ Lô siêu thoát

– Cửa 7:

Cửa Luân hồi , ở đó Thần và Quỷ ngồi đánh đỏ đen, nhận bình tro cặn từ Địa Sứ trao, ngó nghiêng Trần Giới, reo quẻ ngẫu nhiên vào Giới động vật đang khất sinh, mưu cầu dưới đó, rắc bình tro vào nó khiến sự đầu thai mới bắt đầu

– Cửa 8 :

Thiên Sứ mang bình Hồ Lô siêu thoát trao cho Thánh Thiên cầm thả vào Thiên Tuyền đưa Linh nhẹ trôi vào cõi Vĩnh Hằng mát mẻ, phần đó, tùy ít nhiều mà có phẩm hàm hòa vào Vũ Trụ tham gia vận hành Quy luật của Thượng Đế.

Vậy thời gian chúng sinh đi đầu thai như thế nào là phù hợp?

Việc những người Phật tử tin tưởng và sống theo giáo lý Phật giáo nhưng bị kẹt giữa các các quan điểm khác nhau mà không giải thích được làm ảnh hưởng đến tâm lý chung của số đông những người quan tâm. Trong 3 quan điểm nêu trên nếu điều này đúng thì những điều còn lại sẽ là sai, nhưng vẫn tồn tại cả ba quan điểm khác nhau bởi không có một quan điểm duy nhất nào có khả năng hoàn toàn thuyết phục buộc mọi người hoàn toàn chấp nhận. Nhưng như vậy có hay không cách giải thích có thể phù hợp cho tất cả? Câu trả lời là CÓ.

Những người chết bất luận trong hoàn cảnh nào đời sống của họ căn bản được tiếp nối với những hành trình sống mới một cách phù hợp và liên tục theo nghiệp lực dẫn dắt. Các ngân hàng mầm sống dường như vô tận trong vô số các cảnh giới tồn tại điều kiện sống cho các chúng sinh, tuy nhiên đây là những cái chết bình thường và tái sinh cũng bình thường không có gì đáng bàn nữa. Những cái chêt làm bận tâm số đông con người ví dụ: – Những vĩ nhân, thiên tài vượt bậc (tất nhiên theo tiêu chí của con người) khi họ mất đi nhân loại liệu có ngay lập tức chuẩn bị xuất hiện một thần đồng trong lĩnh vực bậc vĩ nhân kia vừa để lại những đóng góp còn dang dở hay không? Ở đây dường như có 3 tình huống:

a) Nếu món quà số phận là phước cho tài năng đặc biệt của người quá cố kia đã hết, họ đầu thai trở lại là một người bình thường.

b) Vĩ nhân đóng góp lớn cho nhân loại phước của họ sẽ đưa họ tới một cõi cao cấp hơn

c) Họ sẽ tiếp tục trở thành vĩ nhân trong quá trình sống mới nhưng trong thế giới của người đang sống điều này không thể xảy ra ngay lập tức vì chưa đủ điều kiện.

Thông tin sách báo đôi khi bình luận so sánh một về một vĩ nhân thường nói rằng phải hàng trăm năm sau nhân loại mới nảy sinh ra một thiên tài như vậy. Người tái sinh kia chỉ xuất hiện khi các điều kiện có đầy đủ. Vậy, hàng trăm năm trôi qua họ đã tồn tại ở đâu? Trong trạng thái nào? Xin thưa trong một trạng thái tương tự như trường hợp làm đông lạnh. Chúng ta vẫn thường nói về một trạng thái tồn tại sau khi chết, ở đó khi nghĩ đến một nơi nào người đã chết có thể có mặt ngay tại nơi đó trong tức khắc không có gì ngăn ngại, như vậy không gian ở đây không tồn tại. Khi không gian không tồn tại thì thời gian cũng không còn, vật lý hiện đại đã khẳng định như vậy bởi không gian và thời gian là một không thể tách rời độc lập với nhau.

Hàng chục hay hàng trăm năm sau họ mới tái sinh đó là điều hợp lý trong thế giới chúng ta đang sống có không gian nên mới có thời gian, còn với họ tiến trình sống không có dừng lại hoặc gián đoạn mà vẫn diễn ra liên tục bởi họ đã rơi vào một trạng thái phi không gian và phi thời gian, tương tự như trạng thái đông lạnh lưu trữ những mầm sống đơn giản mà ngày nay con người đang thực hiện, khi có đủ điều kiện người ta lại cho nó vận hành tiếp tục phục vụ một mục đích cụ thể nào đó.

Với một số trường hợp đầu thai tái sinh khác nữa: Người quá quyến luyến với đời sống thế gian dòng họ cha mẹ…có thể tiếp tục trở lại đầu thai vào chính dòng họ, gia đình, quê hương tổ quốc một khi các yếu tố đầu thai được hội tụ đầy đủ. Những ân oán sâu nặng oan khuất giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng tìm đến nhau do nguyện lực thúc đẩy mạnh mẽ. Nhưng không phải ngay lập tức trong thế giới cụ thể của chúng ta bởi nó phụ thuộc các chiều kích về không gian và thời gian, nó sẽ xảy ra khi các điều kiện tương thích phù hợp với các động lực đó xuất hiện, có thể ngay lập tức hoặc rất nhiều năm sau.

Chúng ta có thể lo lắng cho mình hay người thân nếu quá lâu không được đầu thai thì tình trạng luẩn quẩn đâu đó trong cái thế giới âm u sẽ rất khổ sở đau đớn…hay như những vị thần bị giam hãm hàng nghìn năm trong một cái chai cho đến một lúc nào đó tình cờ được mở ra như trong các chuyện cổ tích, nếu thực sự như vậy sẽ là một bi kịch ở cấp độ không thể so sánh với chúng sinh nào phải chịu đựng. Tuy nhiên như trên vừa nói trong một cảnh giới không có không gian và thời gian có thể người đã chết không thể cảm nhận được, họ chỉ biết khi mở mắt thì một thế giới mới đã bày sẵn để chào đón họ bước vào với những cung bậc may mắn hay khổ đau phù hợp với vốn liếng nghiệp lực xấu tốt thúc đẩy và nguyện lực của họ ở kiếp sống kế trước đó.

Trong đời sống giao tiếp hàng ngày khi gặp những con người bẩm sinh xấu xí, yếu ớt, kém cỏi, tật nguyền ta thường có tâm lý xa lánh không muốn gần gũi, ánh nhìn dành cho họ nhẹ thì ái ngại mà nặng thì coi thường, khinh rẻ (trừ những người có hiểu biết và tu tập). Phải chăng trong tiềm thức sâu kín ta đã nổi lên một thắc mắc tại sao? nguyên nhân nào? phải có gì trước đó khiến họ đã phải chịu những thiệt thòi lớn lao như vậy dù ta có khái niệm hay niềm tin về luân hồi đầu thai hay không.

Việc cầu nguyện, hồi hướng của người sống hoặc khả năng giao tiếp được với người đã mất vẫn có tác dụng và xảy ra khi người đã mất chưa đầu thai bởi đây là sự giao tiếp không phải theo cách của những người sống với nhau, điều này giải thích tại sao chúng ta vẫn tổ chức cầu nguyện cúng lễ, tại sao có một số người có năng lực đã giao tiếp được và có những thông tin bí mật về người đã mất, tại sao đôi khi chúng ta cũng có cảm giác gặp được người thân của mình trong một vài tình huống như nằm mộng hoặc nhập vong.

Trở lại đầu đề bài viết này, vậy chúng ta đi đầu thai trong bao lâu? Điều này không cần phải quan tâm nữa, chỉ biết việc tái sinh đầu thai là chắc chắn, nó có thể xảy ra ngay hay một lúc nào đó không định trước được cụ thể thời gian. Chính chúng ta với tất cả những gì đã làm ra, kiến tạo nên trong đời sống này và đời sống trước đó sẽ là chất liệu cho đời sống kế tiếp. Tiến trình tái sinh đầu thai cứ liên tục mãi mãi cho đến khi chúng ta nhận thức ra một cách đầy đủ và không muốn phiên lưu thêm nữa, tự triệt thoái dần ra khỏi luân hồi chấm dứt tái diễn lại những tiến trình đau khổ này.

Thủ Tục Xuất Gia Đi Tu – 7 Điều Cần Lưu Ý

0

Hình Động Phật Giáo xin giới thiệu điều kiện và thủ tục xuất gia đi tu mời tham khảo các vấn đề sau trước khi xuất gia…

ĐIỀU KIỆN XUẤT GIA

Ngoài ý chí nguyện lực của mình, người muốn xuất gia còn phải được sự cho phép của cha mẹ nếu là vị thành niên hay nếu đã có gia đình thì phải có sự cho phép của chồng hoặc vợ, và chính quyền địa phương thường trú (nếu ở Việt Nam). Dưới đây là các điều khoản mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hiến chương Phật giáo đã qui định ( Điều 28 chương VI của nội quy ban Tăng sự Trung ương):

a. Là công dân tốt, không vi phạm pháp luật. Tự tay viết đơn phát nguyện, ghi rõ lý do và nguyện vọng phát tâm xuất gia.

b. Người xin xuất gia phải đầy đủ các căn (bộ phận cơ thể), thể chất lành mạnh, không bị bệnh truyền nhiễm, bệnh tâm thần và có phiếu khám sức khỏe tốt.

c. Nếu Nam Nữ Phật tử dưới 16 tuổi (tính theo khai sinh), thì do cha mẹ hoặc người giám hộ làm đơn ký thác cho vị trụ trì cơ sở Tự, Viện. Nếu nam nữ Phật tử đã có gia thất, muốn xuất gia phải có giấy ly hôn do Tòa án cấp và theo các quy định tại mục a, b, c, d điều 28 chương VI của Nội quy này.

d. Thông qua ý kiến chấp thuận của Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện.

e. Được Tăng, Ni trụ trì cơ sở Tự, Viện nơi người xuất gia đến cư trú và tu hành bảo lãnh.

f. Các nam nữ Phật tử tại địa phương có nhân duyên xuất gia, tu học phải được vị trụ trì, Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện cùng (chính quyền) địa phương chấp thuận. Ban Đại diện Phật giáo phải báo trình Ban Tăng sự cấp Tỉnh được tri tường.
g. Các nam nữ Phật tử từ địa phương này đến địa phương khác (ngoài Tỉnh) xuất gia tu học, phải được Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện đề xuất, Ban Trị sự Phật giáo cấp Tỉnh chấp thuận.

h. Việc nhận người vào tu hành tại cơ sở Tự, Viện phải thực hiện theo quy định của điều 21 chương III Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo và điều 22 mục 2 chương IV Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Chính phủ.

i. Nam nữ Phật tử có đầy đủ thủ tục xuất gia được Ban Tăng sự cấp Tỉnh cấp giấy chứng nhận xuất gia theo mẫu do Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN ban hành.

TẬP SỰ ĐỂ XÁC LẬP LÝ TƯỞNG

Thông thường, những ai muốn xuất gia phải trải qua thời gian thực tập xuất gia từ ba tháng cho đến sáu tháng. Tùy theo mỗi người tập sự, thầy trụ trì hay thầy bổn sư có thể quan sát người đó từ lời nói, việc làm, xem họ có thật sự muốn vào chùa trở thành người tu bằng lý tưởng, chí nguyện lớn hay không. Đây là sự thử thách cần thiết.

Ở trong nước ví dụ như chùa Hoằng Pháp, Phật tử được vị trụ trì chấp thuận cho xuất gia khi đã qua thời gian thực tập xuất gia là 6 tháng, phải có phẩm chất đạo đức tốt, không mắc phải 32 chướng nạn của người xuất gia và học thuộc các thời khóa tụng kinh, công phu như: Chú Lăng Nghiêm, Kinh Nhật Tụng và các nghi thức sử dụng chuông, trống, mõ…

Ở hải ngoại ví dụ như Làng Hoa Anh Đào (Virginia, Hoa Kỳ – Thầy Thích Minh Niệm trụ trì) việc xuất gia tu học tương đối dễ dàng hơn (vì không cần giấy phép cho xuất gia của chính quyền địa phương). Chỉ cần thỏa mãn các điều kiện sau:

Tuổi từ 18 đến 50.

Sức khỏe tốt (có thể tham dự đầy đủ các chương trình luyện tập).

Không bệnh tật nặng hay bệnh truyền nhiễm.

Không mắc nợ (cá nhân hay nhà nước)

Không đang mắc tội hình sự.

Phải được sự chấp thuận của gia đình (cha mẹ, hoặc vợ/chồng)

Phải trải qua từ 3 đến 6 tháng thử nghiệm.

Phải trả chi phí sinh hoạt trong thời gian thử nghiệm (giảm 50% so với các thiền sinh. Trong trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, Làng sẽ cứu xét).

Như trên đã trình bày, việc xuất gia có nhiều khó khăn, tối thiểu phải hội đủ ba điều kiện tiên quyết là (1) phải được sự hoan hỷ chấp thuận của gia đình (cha mẹ, hoặc vợ/chồng) (2) phải được vị trụ trì và Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện chấp thuận và (3) phải được chính quyền địa phương chấp thuận. Tuy nhiên việc khó cũng trở thành dễ là do cái duyên, nhất là có túc duyên nhiều đời theo Phật Giáo (là tu sĩ hay là cư sĩ) của mỗi người.

TU XUẤT GIA GIEO DUYÊN

Xuất Gia Gieo Duyên là cánh cửa phương tiện được mở ra để những ai mong cầu giải thoát trong hiện tại và tương lai. Truyền thống này rất phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Nam tông như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Sri Lanka và một vài nước Phật Giáo Bắc Truyền như Đài Loan và Trung Quốc. Ở Việt Nam thì truyền thống này còn khá mới mẻ. Có lẽ người phát khởi đầu tiên tổ chức các khóa tu gieo duyên là HT. Pháp Cao chùa Nam Quang, tỉnh Quảng Nam và sau đó là TT. Bửu Chánh trụ trì Thiền viện Phước Sơn với khóa đầu tiên tại đây có 150 tăng sinh vào 7 tháng 7 năm 2009.

Theo đó, những Phật tử xuất gia gieo duyên ấy sẽ học tập giáo lý của Đức Phật, thực tập theo lời Phật dạy và sống trong nếp sống thiền môn, nếu sau khóa tu có duyên lành thì sẽ phát nguyện xuất gia trọn đời. Nếu người nào không phát nguyện trọn đời xuất gia thì sau khi mãn kỳ hạn xuất gia gieo duyên, họ trở lại cuộc sống đời thường.

Hiện nay ở Việt Nam có một số tu viện, chùa, thiền viện của cả hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông đều có mở những khóa tu xuất gia gieo duyên như ở miền Nam có thiền viện Phước Sơn đã tổ chức được 7 khóa, mỗi khóa là 30 ngày với thời khóa biểu theo đúng quy định của thiền môn đối với một tu sĩ thực thụ. Ở miền Bắc có Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, Vĩnh Phúc mỗi khóa tu là 15 ngày. Và ở miền Trung có chùa Huyền Không, Huế đã tổ chức được hai khoá tu mỗi khoá là 10 ngày. Ở hải ngoại cũng có chùa hay tu viện tổ chức các khóa tu xuất gia gieo duyên như Tu viện Trúc Lâm ở Canada hay chùa Tầm Nguyên ở Mỹ.

Tham Sân Si Nghĩa Là Gì – Nguồn Gốc – Khái Niệm – Vai Trò

0

Hình Động Phật Giáo xin giảng giải cho quý tăng ni phật tử một cách tượng tần nhất về khái niệm, ý nghĩa, nguồn gốc của tham sân si

THAM

Khái Niệm

“Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham cho mình, rồi tham cho cả bà con quyến thuộc, quốc gia, xã hội của mình. Cũng vì lòng tham, mà nhân loại tranh giành giết hại lẫn nhau. Kẻ tham hay ghen ghét những người thành tựu.

Nếu có tâm tham thời phải “tu tâm” ngay, phải tập tính “thiểu dục tri túc”. Thiểu dục là muốn ít, tri túc là biết đủ. Người thiểu dục, tri túc thì có một đời sống giản dị, thanh cao và an toàn vì biết đủ với những thứ mình đã có. Bỏ dần lòng tham đi để đạt tới được “vô tham”. Vô tham là không tham lam.

Ở đời, có năm món dục lạc, mà người ta thường ham muốn nhất là: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. “Ngũ trần dục lạc” ấy, thật ra, vui ít mà khổ nhiều. Tham tiền thời phải đày đọa thân sống, đôi khi còn dùng những phương tiện bất chính để chiếm đoạt và khi mất thì lại đau khổ. Đối với sắc đẹp nên quán thân là bất tịnh, tham sắc thì nhiều khi lại lao vào những mưu chước tồi tệ để thỏa lòng dục vọng. Tham danh vọng, quyền tước thì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí. Tham ăn uống cao lương mỹ vị thì bị nhiều bệnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ. Tham ngủ nghỉ thì trí não hóa đần độn. Ngũ trần dục lạc đó chính là những nguyên nhân ràng buộc kiếp người vào vòng sinh tử, luân hồi, sa đọa.

Nguồn Gốc

Truyện tích kể rằng một phú gia không con, chết đi, bỏ lại tất cả tài sản sự nghiệp lớn lao. Vua truyền lệnh cho nhập gia sản của ông vào quốc khố và đến hầu Đức Phật. Vua bạch lại tự sự với Đức Phật và ghi nhận rằng mặc dầu nhà phú gia này ở gần nơi Đức Phật ngự, không bao giờ ông để bát cúng dường Ngài. Nhân cơ hội này Đức Phật kể thêm về tiền kiếp của phú gia là đã từng làm việc thiện bằng cách cúng dường một vị Bích Chi Phật nhưng lại tiếc của đem cúng và còn phạm một tội ác là giết cháu ruột để giành gia tài của anh mình. Đức Phật nhân đó dạy rằng:

(Pháp Cú 355)
Giàu sang, tài sản dồi dào
Chỉ làm hại được kẻ nào ngu thôi,
Dễ gì hại được những người
Đang cầu giác ngộ hướng nơi Niết Bàn,
Chỉ vì ham muốn giàu sang
Kẻ ngu tự hại bản thân đã đành
Hại thêm cả kẻ xung quanh.

Đức Phật ngợi khen người không tham lam và khuyên mọi người nên cúng dường các vị đó. Nhưng khi bố thí nên suy xét kỹ càng. Làm vậy sẽ tương tự như nếu đem hạt giống mà gieo trên đất lành, đất màu mỡ thời hạt mới đơm hoa, kết trái sum suê. Nếu gặp người thọ thí có đức hạnh mà bố thí sẽ được phước báu nhiều. Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Đức Phật dạy tham như cỏ hoang làm hại ruộng nương, đây là làm hại “đất tâm” của người tu hành và trị tham chẳng gì hơn là việc bố thí:

(Pháp Cú 356)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Tham lam gây hại nhiều hơn cho người,
Tham lam ai đã lìa rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp sau đây: Ba nghiệp thân, khẩu, ý được tự tại, của cải không bị mất mát, hưởng phúc đức và những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

Đức Phật còn dạy là đừng để tham và sân, đừng để tội lỗi lôi mình vào cảnh khổ. Tội lỗi ở đây nghịch nghĩa với chánh hạnh, là không theo giáo pháp, trong câu sau này có nghĩa là sân hận. Căn nguyên của điều ác là tham lam và sân hận:

(Pháp Cú 248)
Các ngươi nên biết rõ rằng
Dễ gì chế ngự việc làm ác đâu
Tham lam, tội lỗi hố sâu
Kéo ta xuống chốn khổ đau đời đời.

SÂN

Khái Niệm

“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù.

Sở dĩ sân sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta”. Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay. Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận. Nhưng nên nhớ rằng trên đời này không ai tránh khỏi bị khiển trách, bị chê bai, khó tránh khỏi miệng thế gian như Đức Phật đã từng đưa nhận xét:

(Pháp Cú 227)
Người con Phật hãy nghe đây
Chuyện không phải chỉ đời này mà thôi
Từ đời xưa đã nói rồi:
“Làm thinh thời sẽ có người chê bai,
Nói nhiều cũng bị chê hoài,
Dù cho nói ít cũng người chê thôi”.
Làm người không bị chê cười
Thực là chuyện khó ở nơi cõi trần.

Nguồn Gốc

Trong quá khứ, trong tương lai và trong hiện tại chưa hề có người nào bị tất cả mọi người chê bai hay được tất cả mọi người khen ngợi, đúng như lời Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 228)
Ở đời toàn bị chê bai
Hay toàn nghe tiếng người ngoài khen ta
Từ xưa chẳng thấy xảy ra,
Tìm trong hiện tại thật là khó sao,
Tương lai cũng chẳng có nào.

Nhưng vì bị chê bai mà nổi sân thời tai hại vô cùng vì lúc nóng giận thì con người không còn đủ bình tĩnh để tự kiểm soát hành vi và ngôn ngữ của mình. Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra.” Và: “Một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức.” Đức Phật khuyên: “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các ngươi.”

Phải tu tâm để đạt tới “vô sân”. Vô sân là không nóng nảy, hết giận hờn. Chúng sinh bị qua nhiều kiếp sinh tử luân hồi chính vì không thắng nổi lòng sân. Chư Phật được tự tại, giải thoát, là do dứt trừ được lòng sân tận gốc. Điều khó nhất là diệt trừ phẫn nộ ngay từ trong tâm. Khi tâm chúng ta không còn nghĩ đến giận hờn thì tự nhiên cơn phẫn nộ sẽ không bộc phát. Trong khi đốn cây để cất tịnh thất cho mình, thầy Tỳ kheo nọ vô tình làm tổn hại đến cái chồi non của một vị thần cây. Vị này nổi giận, muốn giết thầy nhưng kịp nghĩ suy nên kiềm chế được cơn sân hận của mình đang phát sinh. Đức Phật tán dương vị thần và dạy:

(Pháp Cú 222)
Khi cơn giận dữ bùng ra
Ai mà ngăn được mới là người hay
Giỏi như hãm lại được ngay
Chiếc xe đang chạy chở đầy, phóng nhanh,
Nếu không thì bản thân mình
Cầm cương hờ hững tài tình gì đâu.

Đại đức Mục Kiền Liên hỏi thăm nhiều vị Trời nhờ công đức gì mà được tái sinh vào cảnh trời. Các vị này kể ra những hành động xem ra có vẻ không quan trọng lắm như chân thật, nhẫn nại và bố thí v.v… Khi ngài Mục Kiền Liên bạch hỏi Đức Phật vậy những hành động tuy nhỏ nhưng tốt lành có thể nào dẫn đến các cõi trời không, Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 224)
Nói lời chân thật luôn luôn,
Dẹp cơn nóng giận dỗi hờn khó coi,
Dù ta có ít của thôi
Cũng chia bố thí cho người đến xin,
Nhờ ba việc tốt lành trên
Đưa ta đến cõi chư thiên, cõi trời.

Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Đức Phật dạy rằng cỏ dại làm hại ruộng vườn thời lòng sân hận cũng làm hại loài người. Vì vậy người nào diệt hết lòng sân hận thì người đó đáng được ngưỡng vọng và khâm phục:

(Pháp Cú 357)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Lòng sân gây hại nhiều hơn cho người,
Ai lìa sân hận được rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Voi là một con vật quan trọng hàng đầu trong số những thú vật được con người huấn luyện để sử dụng. Giống như voi với sức mạnh có thể bứng gốc một thân cây, quấn vòi quanh thân cây ấy để mang đi dễ dàng, Đức Phật dạy rằng con người cũng có thể tạo cho mình tiềm lực vật chất, nghị lực tinh thần, lòng kiên nhẫn và sức mạnh, chẳng khác một con voi thuần thục. Luyện được lòng nhẫn nhục mới là khó:

(Pháp Cú 321)
Luyện voi dự hội, tài thay
Luyện voi vua cưỡi cũng hay vô cùng,
Nhưng mà nếu luyện được lòng
Luôn luôn nhẫn nhục, chẳng còn nổi sân
Khi nghe phỉ báng bản thân
Mới là điêu luyện, muôn phần tài hơn.

Đức Phật dạy rằng tự chế ngự được mình mới là điều rất quý và người chịu cố gắng, đủ nhẫn nại để tự huấn luyện mình thời cũng sẽ được hưởng kết quả tốt lành như người đã khéo huấn luyện các con thú vật như la, ngựa và voi. Con người thuần thục, giới đức trang nghiêm là hơn tất cả:

(Pháp Cú 322)
Con la được huấn luyện qua
Trở nên thuần tánh, tỏ ra tốt lành,
Ngựa nòi sinh chốn sông xanh
Sau khi huấn luyện, trở thành ngựa hay,
Voi ngà to lớn quý thay
Sau khi huấn luyện voi này tuyệt luân,
Con người nếu chính bản thân
Tự mình thuần hóa được luôn chính mình
Mới là người thật tài tình!

Đức Phật khuyên chúng sinh hãy từ bỏ cả tham lẫn sân. Ngài ví một chiếc thuyền như thể xác, như tấm thân con người do năm uẩn tạm hợp. Thân này sẽ tan rã vì vô thường, nên xét kỹ thời thấy nó quả thật trống không. Nước trong thuyền là những tư tưởng xấu cần diệt trừ. Tát cho khô nước tức là dập tắt ngay lửa tham sân. Khi thuyền khô cạn nước thời thuyền trở nên nhẹ nhàng để mau chóng qua bờ. Thân tâm dẹp sạch tham dục và sân hận thời trở nên thanh tịnh, đó là điều kiện tốt để sớm chứng được cảnh Niết Bàn:

(Pháp Cú 369)
Tỳ Kheo tát nước thuyền này
Thuyền không nhẹ nhõm xuôi ngay theo dòng,
Tham và sân trừ diệt xong
Thân này cũng nhẹ thoát vòng nhiễm ô
Niết Bàn mau chóng qua bờ.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người nào không nổi sân, thì tâm không khổ não, tâm không tranh giành, tâm nhu hòa ngay thẳng, tâm từ bi như Phật, thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sinh, thân tướng trang nghiêm được chúng sinh tôn kính và vì có đức nhẫn nhục nên sẽ được mau sinh lên cõi Phạm Thiên.

SI

Khái Niệm

“Si” là si mê, vô minh, ngu tối. Người vô minh không sáng suốt, không suy xét hiểu biết đúng lẽ phải, đúng sự thật để phán đoán việc hay dở, tốt xấu, lợi hại v.v… nên mới làm những điều nhiễm ô tội lỗi, có hại cho mình và người. Si, vô minh theo thế tục gọi là “dại” hay “ngu”. Vô minh che lấp tâm trí, làm cho con người không còn nhìn thấy được những chất bợn nhơ đang gậm nhấm từ bên trong con người khiến các thói hư tật xấu ấy sẽ tăng dần và cuối cùng đưa con người vào con đường tội lỗi triền miên. Đức Phật dạy rằng vô minh là điều ô trược tệ hại nhất. Hãy dứt bỏ vô minh để trở thành người trong sạch

Nguồn Gốc

Hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bạch với Đức Phật rằng họ không thể thuyết phục được ông thầy của họ trước kia đến gặp Đức Phật và nghe giáo pháp vì vị này còn quá luyến ái tín đồ riêng. Nhân dịp này Đức Phật giải thích sự khác biệt giữa người suy luận chân chính với người suy luận sai lầm và hậu quả dĩ nhiên của mỗi lối suy luận:

(Pháp Cú 11)
Những gì không thật, hão huyền
Lại cho là thật và tin vô bờ,
Những gì chân thật lại ngờ
Lại cho không thật, chỉ là giả thôi,
Nghĩ suy lầm lạc mất rồi
Thấy sao chân thật rạng nơi pháp mầu.

(Pháp Cú 12)
Biết đây là thật để tin
Biết kia không thật, hão huyền mà thôi
Nghĩ suy theo đúng đường rồi
Thấy ngay chân thật rạng nơi pháp mầu.

Với hai câu Pháp Cú kể trên, chúng ta đã thấy vai trò chủ yếu của vô minh và tà kiến trong các nguồn gốc phát sinh các hành vi bất thiện. Như vậy chúng ta cũng không lạ gì khi Đức Phật khuyên chúng ta không nên tu theo lối khổ hạnh khắt khe, ép xác, chỉ nhắm vào bề ngoài và không nên chuyên lo tế tự, vì những hành động này không dẫn chúng ta đến giác ngộ giải thoát, không giúp chúng ta trở nên trong sạch. Thấy một vị Tỳ kheo có nhiều đồ đạc, của cải riêng tư, lại thêm có nhiều y, Đức Phật quở rầy. Thầy giận, cởi bỏ hết áo cà sa mặc bên ngoài quăng đi, chỉ mặc chiếc áo cánh ở trong thôi. Đức Phật thuật lại câu chuyện tương tự đã xảy ra trong tiền kiếp của thầy. Ngài khuyên đi tu phải sống đạm bạc, trong tâm phải biết hổ thẹn khi làm điều quấy và biết lo sợ khi phạm tội lỗi. Muốn thanh lọc thân tâm thì cần dứt bỏ lòng hoài nghi:

(Pháp Cú 141)
Dù tu khổ hạnh triền miên
Trần truồng, bện tóc, tro đen xoa mình
Nhịn ăn, nằm đất, lăn sình
Sống dơ, ngồi xổm để hành xác thân
Nào đâu thanh tịnh được tâm
Nếu không trừ dứt đi phần hoài nghi.

Một thời ở Ấn Độ vẫn còn tồn tại nhiều hình thức khổ hạnh. Lớp dơ dáy bên ngoài được vài người xem là dấu hiệu của bậc thánh nhân. Đức Phật không chấp nhận hình thức khổ hạnh khắt khe chỉ nhắm vào bề ngoài như thế. Các tu sĩ theo con đường tu hành của Ngài phải đi theo một con đường ở khoảng giữa, đó là “trung đạo”. Phải tránh hai cực đoan, một là khổ hạnh và đường khác là lợi dưỡng. Giản dị, khiêm tốn, thanh đạm cùng với lối sống sạch sẽ là những đặc tính chính yếu của chư vị Tỳ kheo. Hơn nữa muốn cho tâm ta được thanh tịnh thời cần dứt bỏ đi phần hoài nghi vì nếu chưa nhiếp phục được hoài nghi tức là không có niềm tin nơi Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật dạy rằng dù cho có tế thần lửa trong một thế kỷ không bằng trong giây lát tôn kính bậc chân tu hoàn toàn trong sạch, có đạo hạnh. Cháu của ngài Xá Lợi Phất, theo lời thầy của anh ta truyền dạy nên anh có thói quen mỗi tháng giết thú vật và đốt lửa rừng tế thần để cầu mong được tái sinh vào cảnh trời. Ngài Xá Lợi Phất đem cháu đến hầu Phật và Đức Phật chỉ dạy, hướng dẫn người cháu về con đường chân chính nên theo:

(Pháp Cú 107)
Trăm năm ở tại rừng sâu
Dốc lòng thờ lửa cũng đâu sánh bằng
Chỉ trong giây lát cúng dường
Những người đạo hạnh một đường chân tu
Thật là công đức vô bờ
Hơn là thờ lửa mê mờ trăm năm.

Đức Phật cũng dạy rằng kính lễ một vị đắc quả thánh, một bậc chánh hạnh, dù chỉ là trong giây lát cũng đem lại công đức và thập phần quý hơn là cúng dường lễ vật hoặc vật thực đến người phàm tục. Một người bạn của ngài Xá Lợi Phất hằng năm tiêu phí rất nhiều tiền để giết thú tế thần và mở hội bố thí rộng rãi. Đức Phật thuyết phục ông ta trở về lối cúng dường chân chính:

(Pháp Cú 108)
Suốt năm bố thí, cúng dường
Để cầu phước báu chẳng bằng so ra
Phần tư công đức của ta
Khi ta kính lễ những nhà chân tu
Thanh cao, chính trực vô bờ.

Thường thời không sợ “tham” và “sân” nổi lên, mà chỉ sợ mình tự giác ngộ chậm, chỉ sợ mình si mê, vô minh mà thôi. Nếu “tham” và “sân” nổi lên, mà ta sáng suốt phán đoán kịp thời, không có si mê, thì tham sân kia cũng chẳng làm gì được. Người học Phật phải dẹp trừ lòng si mê của mình, lúc nào cũng phải sáng suốt đối với tất cả mọi việc, phải tu tâm để đạt được “vô si”. Vô si là không mờ ám, không si mê. Đối với tất cả mọi việc, lúc nào cũng có trí tuệ sáng suốt, suy xét, phán đoán việc tà chính, hay dở, phải trái v.v… Do đó, việc làm mới chính đáng, tránh khỏi những điều tai hại, vừa lợi ích cho mình và vừa lợi ích cho người, ở hiện tại cũng như ở tương lai. Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 358)
Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Si mê gây hại nhiều hơn cho người,
Si mê ai đã lìa rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người không si mê, thì thành tựu được các pháp công đức sau đây: được ý vui chân thiện và bạn chân thiện; tin nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác; chỉ quy y Phật; tâm ngay thẳng, có chính kiến; sinh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác; hưởng phúc huệ; không lòng chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp và khỏi bị nạn dữ v.v…

Bài Kinh Cầu Siêu Cho Người Chết – 18 Câu Thần Chú Cần Biết

0

Hình Động Phật Giáo xin giới thiệu bài kinh cầu siêu cho người chết được quý tăng ni phật tử trì tụng nhằm đưa người quá cố đến suối vàng an hưởng ở miền cực lạc

I.-KINH VĂN:

Kinh Cầu Siêu

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,

A Di Đà Phật độ chúng dân,

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc,

Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Bố từ bi tế bạt vong hồn,

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn.

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải,

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại.

Độ kẻ lành chế cải tai ương.

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

Giảm hình phạt bớt đường ly tiết.

Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên,

Đặng nhẹ nhàng thẳng đến cung Tiên.

Nơi phước địa ở yên tu luyện,

Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,

Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

II.-NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA:

Nguồn gốc bài Kinh Cầu Siêu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là bài “Sám Cầu Siêu” được thỉnh từ Chi Minh Lý, tức Tam Tông Miếu bây giờ.

Bài Kinh này, Chi Minh Lý cầu Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho và dạy phải truyền kinh để phổ độ. Khi Đạo Cao Đài được khai sáng, Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn Ngài: Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Giáo Sư Vương Quang Kỳ và Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đến Minh Lý Đạo thỉnh sáu bài Kinh, trong đó có bài Kinh Cầu Siêu.

Kinh Cầu Siêu là bài Kinh tụng đọc cho các Chơn linh mới chết hay các tuần Cầu Siêu bạt tiến trong đạo Cao Đài để cầu xin Chí Tôn, Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung ân xá cho vong hồn người chết được siêu thăng thoát hóa.

Khi Cầu siêu, những người thân trong tang quyến (con cháu) và thân bằng quyến thuộc phải tập trung để thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người chết được nhẹ nhàng.

Trong quyển “Thiên Đạo”, Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có nói đến sự tác dụng của Kinh Cầu siêu như sau: “Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng kinh gây thành một mảnh lực phi thường đánh tan Chơn thần của âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng đặng đi đầu thai sớm được”.

Thực hiện lễ Cầu siêu là nhằm cầu xin Ơn Trên cứu giúp phần nào cho vong linh người chết được nhẹ nhàng, chứ không hẳn nhiên cầu là được siêu thoát, vì nó còn tùy thuộc vào nghiệp quả nặng nhẹ mà kiếp sanh người chết đã gây ra.

Nhưng sự siêu thoát của cha mẹ ông bà có thể trợ giúp được phần nào bằng việc làm của con cháu. Nếu con cháu biết lo tu hành, lập công bồi đức để có thừa âm chất mà đem hiến dâng cho cha mẹ ông bà thì những Chơn linh này có thể được nhẹ nhàng trở về ngôi xưa vị cũ. Trong bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu có câu:

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

III.-CHÚ GIẢI:

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,

A Di Đà Phật độ chúng dân,

Vọng bái 望 拜: Ngưỡng vọng mà cúi lạy.

Tây Phương Phật Tổ 西 方 佛 祖: Đức Thích Ca Mâu Ni được gọi là Phật Tổ ở cõi Tây Phương là vì Ngài là một vị Tổ Sư và lại là người sáng lập ra Phật giáo ở phương tây nước Ấn Độ.

A Di Đà 阿 彌 陀: Một trong những vị Phật quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Ngài được thờ trong các ngôi chùa của phái Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

A Di Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện sẽ tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài.

Phật A Di Đà tức tự tánh Di Đà, tự tâm thanh tịnh sẵn có, bất sanh bất diệt, nên còn gọi là Vô Lượng Thọ Phật 無 量 壽 佛, và tánh giác hằng sáng suốt, nên cũng còn gọi là Vô Lượng Quang Phật 無 量 光 佛.

Trong các ngôi chùa thường thờ Ngài ngồi chính giữa, Bồ Tát Thế Chí đứng bên phải, và Bồ Tát Quan Âm đứng bên trái.

Độ chúng dân 度 眾 民: Tức là cứu giúp chúng sanh, cứu giúp nhơn sanh.

Câu 1: Đầu ngưỡng vọng cúi lạy Đức Phật Tổ ở cõi Tây Phương.

Câu 2: Cùng Phật A Di Đà nơi Cực Lạc xin cứu giúp cho chúng sanh.

Lúc sanh tiền, Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật Văn Phật đã có lòng từ bi, thương xót chúng sanh mãi chìm sâu trong biển khổ, nên dù Ngài đang là một vị Thái Tử, quyền uy khắp nước, thế mà Ngài vẫn lìa bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh để chịu khổ hạnh tìm phương cứu khổ chúng sanh. Nên khi Ngài thành Đạo dưới cội cây Bồ đề, Ngài bèn truyền pháp độ sanh hơn 45 năm truờng đến lúc nhập Niết bàn mới thôi.

Còn Đức A Di Đà Phật lập ra cõi Cực Lạc Thế Giới là có ý mong muốn độ hết chúng sanh về cõi ấy, nên trong 48 lời nguyện rộng lớn của Ngài, có một câu đại nguyện là tiếp dẫn chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài đều được vãng sanh về cõi Tịnh độ.

Do lòng Đại từ bi và Đại nguyện của hai Đấng Phật , nên khi chúng sanh cần cầu cho các vong linh được về cõi Phật quốc, thì thường nguyện vái Đấng Tây Phương Phật Tổ và A Di Đà Phật.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc,

Quan Thế Âm 觀 世 音: Hay Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát lắng nghe âm thanh của thế gian, có nghĩa là Ngài quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hóa độ.

Trong Kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan Thế Âm 苦 惱 眾 生, 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, 以 是 名 觀 世 音.

Nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhất tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài xem âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát. Vì thế nên gọi Ngài là Quán Thế Âm. Người đời thường gọi tắt Ngài là Quan Âm.

Ngài còn có hiệu là Quán Tự Tại Bồ Tát, có nghĩa là quán chiếu thâm sâu, giác ngộ tự tại mà cứu độ chúng sinh.

Đức Quán thế Âm có phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện nhiều sắc tướng để cứu giúp chúng sanh, nên người đời thường thờ Ngài bằng nhiều tượng khác nhau.

-Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát 千 手 千 眼 觀 世 音 菩 薩 tượng có nghìn tay nghìn mắt.

-Chuẩn Đề Quan Âm 準 提 觀 音 : Tượng có ba mắt và mười tám tay.

-Nam Hải Viên Thông Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi, Tầm Thanh Cứu Khổ, Linh Cảm Quan Âm Bồ Tát 南 海 圓 通 教 主 大 慈 大 悲 尋 聲 救 苦 靈 感 觀 世 音 菩 薩: Danh hiệu nầy có nghĩa là Đức Quan Thế Âm làm Giáo Chủ Đạo Viên Thông ở miền Nam Hải, thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm ứng và rất Thiêng liêng.

-Quan Âm Nữ Phật 觀 音 女 佛 : Tượng là một người phụ nữ, cho nên còn gọi là Phật Bà Quan Âm, do hai sự tích : Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính.

Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Quan Thế Âm là một tướng nữ, tượng trưng cho tình thương của một bà mẹ hiền, đứng trên hoa sen, tay cầm cành dương liễu để tiếp dẫn chúng sanh và bình nước cam lồ để rưới tắt các phiền não. Trụ Xứ của Ngài là Nam Hải, nên còn được gọi Nam Hải Quan Âm hay Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai. Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Nhị Trấn Oai Nghiêm Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai để đại diện cho Phật trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bát Nương có giáng cơ cho biết về Đức Quan Âm như sau: “Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ Độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên”.

Sau đây là bài Thánh thi của Đức Quan Âm Như Lai:

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

看 得 浮 生 一 世 空

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

田 園 產 業 亦 皆 空

Thê nhi phụ tử chung ly biệt,

妻 兒 父 子 終 離 別

Phú quý công danh tổng thị không.

富 貴 功 名 總 是 空

Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,

古 語 萬 般 都 是 假

Kim ngôn bá kế nhứt trường không.

今 言 百 計 一 場 空

Tiền tài thâu thập đa tân khổ,

錢 財 收 拾 多 辛 苦

Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ không.

路 上 黃 泉 兩 手 空

(Quan Âm Như Lai)

DỊCH NGHĨA

Được thấy phù sinh vốn cõi không,

Ruộng vườn sự nghiệp cũng đều không.

Vợ con cha mẹ rồi ly biệt,

Danh lợi sang giàu rốt cũng không.

Lời cổ: Muôn điều toàn giả tạm,

Câu nay: Trăm kế một trường không.

Tiền tài gom góp nhiều lao khổ,

Nẽo đến Suối Vàng, tay sạch không.

(Thiên Vân dịch)

Lân mẫn 憐 愍: Thương xót và lo lắng giúp đỡ.

Ân cần 慇 勤: Lo lắng săn sóc một cách chu đáo.

Vớt: Cứu vớt.

Lê thứ 黎 庶: Dân đen, chỉ dân chúng nghèo khổ.

Khổ trần: Hay trần khổ 塵 苦: Những nỗi khổ nơi cõi trần.

Đọa lạc 墮 落: Hay trụy lạc, sa vào một cảnh đê hèn khổ sở. Theo nghĩa Kinh là bị đày xuống cõi thấp kém, tối tăm khổ sở.

Câu 3: Cầu xin Đức Quan Thế Âm thương xót ân cần lo lắng.

Câu 4:Cứu vớt cho dân chúng đang bị đày đọa khổ sở nơi cõi trần này.

Chúng sanh bị khổ nghiệp vây khốn nơi cõi thế gian giả tạm, nên Chư Phật Tiên và Bồ Tát xuất hiện trên cõi đời này với hạnh nguyện đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài. Trong đó, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát được các Kinh ca tụng có hạnh nguyện độc đáo nhứt. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh làm tiêu đích trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh. Với danh hiệu Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ, cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, đã nói lên được đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó. Vì thế, những nỗi khổ đau, tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ sanh của Quán Thế Âm Bồ Tát phát sinh. Nên Ngài đã dùng nhĩ căn viên thông, thường xuyên quan sát và nghe tiếng cầu cứu của chúng sanh, tùy theo căn cơ mà Ngài hóa độ và cứu vớt.

Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Bố từ bi tế bạt vong hồn,

Đại thánh 大 聖: Vị Thánh lớn.

Địa Tạng Vương Bồ Tát 地 藏 王 菩 薩: Tên một vị Bồ Tát có lời đại nguyện cứu thoát chúng sanh ra khỏi cảnh giới Địa ngục khổ sở.

Phật hiệu này mang ý nghĩa như sau: Địa 地 là đất, là nơi nương tựa của muôn loài, nhờ đất mà vạn vật nẩy nở, do đất mà phát sinh muôn loài. Tạng 藏 là kho báu chất chứa trong lòng đất. Tâm được ví như đất, nên Bồ Tát Địa Tạng tượng trưng cho chân tâm. Chúng sanh phải nương vào chân tâm mới an vui giải thoát.

Ngài có lập thệ: Nếu địa ngục chưa hết, thề không thành Phật, chúng sanh độ hết, mới chứng bồ đề. Cho nên gọi Ngài là U Minh Giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát: Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh tận độ, phương chứng bồ đề 地 獄 未 空, 誓 不 成 佛, 眾 生 盡 度, 方 證 菩 提.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn ân xá cho chúng sanh, đóng cửa Địa ngục, Phong đô mà mở ra một quan ải cho các Chơn hồn giải thân định trí, nói rõ hơn, đó là nơi của các hồn đến đó đặng định tâm xét mình, coi trong kiếp sanh bao nhiêu phước tội, nơi đó được gọi là Âm Quang, do Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn, còn Thất Nương Diêu Trì Cung thì lãnh phần giáo hóa các nữ tội hồn.

Bố từ bi 布 慈 悲: Ban rải lòng thương yêu chúng sanh.

Tế bạt 濟 拔: Cứu giúp để cất nhắc lên.

Chú thích: Từ bạt có nhiều chữ đồng âm, nhưng phù hợp với ý câu kinh chỉ là chữ 拔 (bạt): Chọn để cất nhắc lên. Như đề bạt 提拔. Chữ bạt tiến hoặc tiến bạt 薦拔,chính là từ bạt này.

Vong hồn 亡魂: Hồn người chết.

Câu 5: Cầu xin Đấng Đại Thánh là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Câu 6: Ban rải lòng từ bi mà cứu giúp để cất nhắc các vong hồn cho được siêu thoát.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn.

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải,

Cứu khổ nàn: Tức là cứu khổ nạn 救 苦 難: Cứu giúp thoát khỏi những tai nạn và khổ sở.

Thái Ất Thiên Tôn 太 乙 天 尊: Một vị đại Tiên, thầy của Tam Thái Bảo Na Tra, có nhiệm vụ chưởng quản bộ sổ ở cõi Phong Đô.

Miền Âm cảnh: Cõi Âm phủ, cõi A tỳ, cõi Địa ngục…

Ngục môn khai giải 獄 門 開 解: Mở bỏ cửa Địa ngục.

Câu 7: Cầu xin Thái Ất Thiên Tôn cứu giúp thoát khỏi cảnh khổ sở.

Câu 8: Xin mở bỏ những cửa ngục nơi miền Âm phủ.

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại.

Độ kẻ lành chế cải tai ương.

Đông Nhạc Đế Quân 東 嶽 帝 君: Là một vị Thiên Thần, trấn ở Đông Nhạc thuộc núi Thái Sơn, có nhiệm vụ cai quản, sửa trị tất cả các hồn u uất tán loạn, cùng việc thăng giáng của quỉ thần bất kỳ ở Dương gian hay Âm phủ.

Ngũ nhạc 五 嶽 là năm ngọn núi cao làm tiêu biểu cho 5 hướng bên nước Trung Hoa. Đó là:

-Đông nhạc Thái sơn 東 嶽 泰 山.

-Tây nhạc Hoa sơn 西 嶽 華 山.

-Nam nhạc Hành sơn 南 嶽 衡 山.

-Bắc nhạc Hằng sơn 北 嶽 恆 山.

-Trung nhạc Tung sơn 中 嶽 嵩 山.

Trên năn ngọn núi này, tương truyền có năm vị Đế Quân trấn giữ, trong đó Đông Nhạc Đế Quân làm đầu thần Ngũ nhạc.

Quảng đại 廣 大: Rộng lớn, chỉ lòng dạ rộng rãi bao la.

Chế cải 制 改: Sửa đổi lại.

Tai ương 災 殃: Cái tai họa có hại lớn.

Câu 9: Mong nhờ ơn rộng rãi bao la của Đức Đông Nhạc Đế Quân.

Câu 10: Cứu giúp cho kẻ làm lành và sửa đổi bớt những tai ương hoạn nạn.

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

Dạ đài 夜 臺: Chỉ lâu đài, cung điện ở Âm phủ, đồng nghĩa với Diêm đài, hay Diêm cung, Âm cung.

Thập Điện Từ Vương 十 殿 慈 王: Mười vị vua có lòng nhơn từ, đang cai quản mười điện ở cõi Âm phủ. Mười vị vua đó thường được gọi là Thập Điện Diêm Vương 十 殿 閻 王 hay Thập Điện Minh Vương

Theo kinh sách, mười vị Diêm Vương cai quản mười điện ở Âm phủ được kể như sau:

Nhứt Điện 一 殿: Tần Quảng Vương 秦 廣 王.

Nhị Điện 二殿: Sở Giang Vương 楚 江 王.

Tam Điện 三 殿: Tống Đế Vương 宋 帝 王.

Tứ Điện 四 殿: Ngũ Quan Vương 五 關 王.

Ngũ Điện 五 殿: Diêm La Vương 閻 羅 王.

Lục Điện 六 殿: Biện Thành Vương 卞 城 王.

Thất Điện 七 殿: Thái Sơn Vương 泰 山 王.

Bát Điện 八 殿: Bình Đẳng Vương 平 等 王.

Cửu Điện 九 殿: Đô Thị Vương 都 示 王.

Thập Điện 十殿: Chuyển Luân Vương 轉 輪 王.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn Đại Ân Xá, đóng Địa ngục, mở Từng Thiên, nên Thập Điện Diêm Vương hay Thập Điện Minh Vương được chúng sanh gọi là Thập Điện Từ Vương Chưởng quản cõi Âm Quang.

Hình khổ: Hay Khổ hình 苦 刑: Hình phạt chịu nhiều khổ sở.

Thảm thiết 慘 切: Đau đớn như cắt.

Câu 11: Cầu xin Thập Điện Diêm Vương nhơn từ ở cõi Âm phủ.

Câu 12: Thấy các tội hồn thọ khổ hình mà đem lòng thương thảm thiết.

Giảm hình phạt bớt đường ly tiết. (1)

Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên,

Giảm 減: Bớt, trừ bớt.

Hình phạt: Hay phạt hình 罰 刑: Hình phạt để trừng trị kẻ có tội.

Bớt đường: Giảm bớt việc.

Luy tiết 縲 絏: Dây trói buộc tù phạm, trăn trói, giam cầm.

Ông Hoàn Phạm範 桓có nói: Xe hiên, mão miện thì để kính trọng người quân tử, còn như trăng trói thì để hành phạt kẻ tiểu nhân (Hiên miện dĩ trọng quân tử, luy tiết dĩ phạt tiểu nhân 軒 冕 以 重 君 子, 縲 洩 以 罰 小 人).

Xá 赦: Tha cho.

Linh quang 靈 光: Điểm Linh quang, tức là linh hồn.

Thượng Đế là một khối Đại Linh quang trong Càn khôn Vũ trụ. Ngài mới chiết từng Tiểu Linh quang ban cho mỗi con người làm linh hồn.

Tiêu diệt 消 滅: Trừ mất hẳn đi.

Tiền khiên 前 愆: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp trước.

Câu 13: Xin giảm những hình phạt và bớt cho việc giam cầm, trăn trói.

Câu 14: Cầu xin tha thứ cho các linh hồn và trừ dứt hết các tội lỗi đã gây ra trong kiếp trước.

Đặng nhẹ nhàng thẳng đến cung Tiên.

Nơi phước địa ở yên tu luyện,

Đặng nhẹ nhàng: Tức là Chơn linh không còn trọng trược nữa.

Cung Tiên: Hay Tiên cung 仙 宮: Cung Trời, chỉ cõi Tiên hay cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Phước địa 福 地: Đất phước, nơi nhiều phước lành.

Tu luyện 修 鍊: Tu sửa và rèn luyện.

Thường tu thì phải hành, ở đây tu cũng phải luyện, tức là sửa đổi những tính xấu xa, hung dữ rồi phải trau giồi rèn luyện để trở nên người hiền lương đạo đức.

Tu luyện còn là một phép của phái Đạo gia, đó là tu tâm dưỡng tánh và còn luyện thần khí nữa.

Câu 15: Linh hồn đặng nhẹ nhàng mà lên thẳng đến cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Câu 16: Còn nếu ở lại thì hãy yên nơi cõi phước mà lo bề tu luyện.

Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,

Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

Chứng lòng: Chứng chiếu cho tấm lòng.

Sở nguyện 所 願: Điều mà mình cầu nguyện, điều mà mình mong mỏi trong lòng.

Hộ 護: Gìn giữ, che chở.

Thương sanh 蒼 生: Dân đen, chỉ chung nhơn dân hay nhơn sanh.

Có nhiều người hiểu chữ “thương sanh” theo nghĩa từ Nôm là thương yêu sanh chúng.

U hiển 幽 顯: Tối và rõ, Âm phủ và Dương gian.

Khương ninh 康 寧: An ổn mạnh khoẻ.

Câu 17: Cầu xin các Đấng Trời Phật chứng cho điều cầu nguyện.

Câu 18: Xin gìn giữ che chở cho con người ở cõi Âm phủ và Dương gian được an ổn mạnh khoẻ.

Muốn Đi Tu Thì Phải Làm Thế Nào – Cần Chuẩn Bị Những Gì – Tu Ở Đâu

0

2 câu chuyện về tu hành

Bạn Trẻ Muốn Đi Tu Nhưng Không Biết Phải Làm Sao

Em muốn đi tu và muốn tìm một ngôi chùa có thể là ở vùng cao thì càng tốt ạ vì em muốn có cơ hội giúp đỡ trẻ em khó khăn và nếu như có học võ để bảo vệ bản thân và người xung quanh thì càng tốt ạ. Chùa ở đâu không quan trọng nhưng em ưu tiên miền Bắc vì em tìm hiểu qua miền bắc đang cần phát triển Phật giáo hơn miền Nam ạ (Trần Huy)

Chào em,

Trước hết chúng tôi tán thán tâm nguyện xuất gia của em và muốn có cơ hội giúp đỡ trẻ em khó khăn vùng xâu vùng cao và sau nữa, chúng tôi khuyên em nên tiếp cận với thầy trụ trì ngôi chùa nào gần nơi cư trú để tham vấn hay ghi danh tham dự một hay nhiều khóa tu xuất gia gieo duyên do bất cứ một tu viện hay thiền viện nào tổ chức để có cơ hội tham học với quý thầy, quý sư, quý ni và được sinh hoạt nội trú với môi trường sống trong chùa hay tu viện.

Cần Chuẩn Bị Gì

Xuất gia gieo duyên là chịu sự ràng buộc của giới luật trước hết trong một thời gian, còn sau đó, là nếp sống quy củ của tự viện và cách thay đổi thói quen hàng ngày như chuyện ăn uống là phải thay đổi thói quen ăn uống từ 3 bữa/ngày thành 1 bữa/ngày và không ăn phi thời (ăn vặt).

Tu Ở Đâu

Xuất Gia Gieo Duyên là cánh cửa phương tiện được mở ra để những ai mong cầu giải thoát trong hiện tại và tương lai. Truyền thống này rất phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Nam tông như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Sri Lanka và một vài nước Phật Giáo Bắc Truyền như Đài Loan và Trung Quốc. Ở Việt Nam thì truyền thống này còn khá mới mẻ. Có lẽ người phát khởi đầu tiên tổ chức các khóa tu gieo duyên là HT. Pháp Cao chùa Nam Quang, tỉnh Quảng Nam và sau đó là TT. Bửu Chánh trụ trì Thiền viện Phước Sơn với khóa đầu tiên tại đây có 150 tăng sinh vào 7 tháng 7 năm 2009.

Theo đó, những Phật tử xuất gia gieo duyên ấy sẽ học tập giáo lý của Đức Phật, thực tập theo lời Phật dạy và sống trong nếp sống thiền môn, nếu sau khóa tu có duyên lành thì sẽ phát nguyện xuất gia trọn đời. Nếu người nào không phát nguyện trọn đời xuất gia thì sau khi mãn kỳ hạn xuất gia gieo duyên, họ trở lại cuộc sống đời thường.

Hiện nay ở Việt Nam có một số tu viện, chùa, thiền viện của cả hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông đều có mở những khóa tu xuất gia gieo duyên như ở miền Nam có thiền viện Phước Sơn đã tổ chức được 7 khóa, mỗi khóa là 30 ngày với thời khóa biểu theo đúng quy định của thiền môn đối với một tu sĩ thực thụ. Chùa Giác Ngộ đã tổ chức nhiều khóa tu xuất gia gieo duyên. Ở miền Bắc có Thiền ViệnTrúc Lâm Tây Thiên, Vĩnh Phúc mỗi khóa tu là 15 ngày. Và ở miền Trung có chùa Huyền Không Sơn Thượng, Huế đã tổ chức được nhiều khoá tu mỗi khoá là 10 ngày. Ở hải ngoại cũng có chùa hay tu viện tổ chức các khóa tu xuất gia gieo duyên như Tu viện Trúc Lâm ở Canada hay chùa Tầm Nguyên ở Mỹ.

Nếu em ở TP. HCM, chúng tôi khuyên em nên đến tham vấn với TT. Thích Nhật Từ. Thầy Nhật Từ sẽ có những lời khuyên bảo thích hợp với hoàn cảnh của em. Tuy nhiên, trước khi em đến cầu tham vấn, xin hãy đọc các bài sau:

Người Lớn Muốn Đi Tu Nhưng Không Biết Phải Làm Sao

Tôi là một giảng viên trường Luật, năm nay đã hơn 35 tuổi đời nhưng chưa lập gia đình. Thời gian qua cảm nhận giáo lý Đức Phật sâu sắc, có sức chuyển hóa cuộc đời mình nhanh chóng nên muốn dấn thân theo giáo lý giác ngộ này một cách trọn vẹn. Ngoại duyên may mắn không có nhiều vướng bận, chỉ còn lo ngại việc xuất gia trễ nãi như vậy có phải gặp nhiều khó khăn lắm không? Tôi muốn chuẩn bị tư tưởng trước khi xuất gia như thế nào cho khỏi bỡ ngỡ.

TRẢ LỜI:

Xuất gia là một con đường lớn vì nó là chặng đường dài với tất cả mọi nỗ lực không ngừng nghỉ để chiến thắng chính mình, mang lại hạnh phúc cho tự thân và người khác. Một chặng đường dài với rất nhiều thử thách mà đòi hỏi người đi phải có một lý tưởng khá vững chãi thì mới có thể tiến tới đích được.

Nếu bạn đã xác định được giá trị lợi ích của việc xuất gia và bạn đã quyết định dấn thân vào con đường đó thì còn chần chờ gì nữa, hãy thong thả bước vào cuộc. Vâng, đó là một cuộc hành trình ra đi và phải chiến thắng mà không thể thất bại hay dừng lại. Nếu dừng lại giữa đường mà có bạn đồng hành yểm trợ thì may mắn cho bạn, bằng không bạn sẽ dễ dàng mất định hướng rồi sa lầy khi năng lượng Bồ đề tâm không còn nữa. Còn nếu thất bại thì coi như bạn phải chấp nhận trọn kiếp này vay món nợ trường cửu đối với đàn na thí chủ và phải đợi kiếp sau mới có thể hoàn trả nổi.

Lỡ thất bại mà có sức quay lại thì ít ra bạn đã không làm tử thi hoen ố biển Phật pháp, còn hy vọng tích lũy chút phước hữu lậu trong đời sống tại gia; nhưng nếu đã thất bại đối với sự nghiệp trí tuệ, hư hạnh thanh tịnh mà vẫn đắp đổi ngày tháng trong chốn thiền môn, nhận lãnh cơm áo của đàn na tín thí, hòa lẫn vào tập thể Tăng thanh tịnh để “mượn danh đạo tạo danh đời” thì tội báo sâu dày quả thật không lường hết được.

Cần Chuẩn Bị Gì

Chúng tôi không có ý làm bạn thối tâm. Đó là kinh nghiệm cần cảnh báo trước cho bạn. Ngày xưa, lúc từ biệt đi xuất gia mẹ tôi đã dặn dò kỹ: “Đã quyết định đi tu thì nhất định phải đi cho trọn, chứ còn mang thân về đây hoàn tục thì mẹ sẽ không bao giờ chấp nhận, việc đó xấu hổ hơn con gái có chửa hoang”.

Lời nhắc nhở đó là nguồn trợ lực lớn cho tâm Bồ đề thêm kiên cố để vượt qua cuộc hành trình đầy phong ba bão táp của tôi sau này. Bạn cũng nên tâm niệm như vậy để mình cảm thấy con đường đã chọn thật rõ ràng, không có gì là mơ hồ cả. Nó là con đường đem đến sự giải thoát và giác ngộ thực sự nhưng cũng đầy dẫy chông gai ghềnh thác. Bạn lý tưởng vấn đề xuất gia qua kinh sách là một việc khác, còn cạo tóc vào chùa là một việc khác. Bạn đừng quá thần tượng bất kỳ một vị thầy nào hay ngôi chùa nào bởi vì họ luôn không hoàn hảo. Họ chưa phải là thánh nhân hay bậc giác ngộ nhưng ít ra họ là những người tu tập lâu dài, có sức chuyển hóa và trị liệu cao, có nhiều kinh nghiệm để dẫn dắt bạn đi không sai lạc đường tiến tới mục đích giải thoát.

Bạn phải chấp nhận ở họ vài khuyết điểm vì đó là thứ phiền não lâu đời mà họ chưa đủ sức công phá. Bạn phải hằng nghĩ rằng dù mình có thật nhiều kiến thức ngoài đời lẫn trong đạo nhưng khi xuất gia cầu học hạnh giải thoát thì mình phải là một học trò, một đệ tử, một người vừa mới sinh ra trong biển Phật pháp nên không được dị ứng với những động tác thô kệch thiếu thánh thiện của những người chung quanh, phải giữ tinh thần khiêm hạ và cầu học với vị thầy xuất gia cho mình. Vị thầy đó gọi là thầy bổn sư, thầy đầu tiên nâng đỡ mình từ chốn phàm tục bước vào lộ trình giải thoát, cho nên bạn phải “nâng khăn sửa túi” theo sát vị thầy này để tiến thân.

Xuất gia ở tuổi bạn cũng chưa có gì trễ nãi lắm, bởi vẫn có nhiều vị trung niên đã có vợ con vẫn xuất gia và thành công rực rỡ trong công cuộc tìm đến chân lý giác ngộ. Xuất gia lúc ấu niên có lợi thế là tâm hồn còn trong trắng, chưa hoen nhiễm mùi tục lụy, chưa có nhiều ràng buộc tình cảm.

Song cũng khó khẳng định người như thế sẽ đi hết con đường vì giai đoạn thành niên, tức “giao thời” rất khó kềm chế dục vọng, cứ ngoái cổ ra nhìn thế tục đầy màu sắc với lòng thắc mắc bâng quơ. Hoặc khi tiếp cận với ngũ dục lạc thì họ dễ sinh tâm tham đắm bởi trước đây chưa từng có ý niệm nhàm chán xa lìa thật sự. Ngược lại, người từng trải thì cương quyết hơn trong vấn đề này, danh lợi tài sắc có thể đã quá mệt mỏi đối với họ. Họ đủ kinh nghiệm để kiểm thúc mình khi phải đối diện với ma lực quyến rũ.

Song ở những người đó lại rất vất vả khi bước vào thiền định. Tâm thức họ huân nhiễm thế tình nhiều quá, trong tàng thức đầy dẫy những hạt giống phân biệt hơn thua, yêu ghét, tốt xấu… Phải tốn rất nhiều công sức và phải luôn luôn tinh tiến công phu mới gạn lọc hết những cặn bã nằm trong ký ức, sau đó mới có thể chứa những pháp thiện hay pháp môn tu.

Một trở ngại nữa, như bạn là người từng có danh vị trong xã hội, bạn từng là một giảng viên trong trường đại học, bạn từng là người được mọi người kính nể và chưa từng có ai khiển trách bao giờ, những ưu thế đó có thể gây bất lợi cho bạn khi vào đạo. Bạn có thể trở thành một người đứng sau những chú sa di nhỏ xíu, phải học hỏi với những sư huynh đáng tuổi em cháu mình, phải cúi đầu xá chào hay đảnh lễ dưới chân vị thầy trẻ ngang mình hoặc có kiến thức thế gian kém hơn mình rất nhiều.

Bỏ hết những gì bạn đã gầy dựng suốt thời gian qua để bắt đầu với con đường giải thoát là một vấn đề hết sức khó đấy. Vì sao? Đức Phật đã từng cảnh báo người thông minh tài trí, ý thức phân biệt quá nhạy bén, vẫn chưa phân định giữa kiến thức khoa học vào giáo lý siêu diệu của Phật Đà thì sẽ gặp trở ngại khi muốn đào luyện tâm linh xa hơn; nhất là đối với tư tưởng Đại thừa họ dễ dàng lấy chỗ hiểu biết của mình để phủ nhận hay nghi ngờ.

Kinh Nghiệm Thực Hành Ngồi Thiền Và 4 Điều Tuyệt Đối Phải Làm

0

Hình Động Phật Giáo xin giới thiệu một số kinh nghiệm tu hành. Đây là một số những kinh nghiệm thực hành ngồi thiền hữu ích cho những bạn mới bắt đầu học thiền hay mong muốn tìm hiểu về Thiền Định.

Đây là một số kinh nghiệm sẽ giúp ích cho học viên quá trình ngồi thiền

4 Kinh Nghiệm Tu Hành Ít Người Quan Tâm

1. Ăn uống hợp lý

Nếu coi thân thể chúng ta như một bộ máy và bộ máy khi hoạt động tất phải nhờ có dầu, …Vì vậy cơ thể con người mỗi ngày phải nhờ sự ăn uống nuôi sống cơ thể. Nhưng nếu ăn uống không có chế độ hợp lý dễ hại bộ máy tiêu hóa ta. Với việc ăn uống quá no sẽ làm cho hơi thở chướng đầy, khi ta thực hành ngồi thiền sẽ cảm thấy khó chịu. Ngược lại ăn uống quá ít không đủ năng lượng thân thể làm cho thân thể bạc nhược mất tập trung trong quá trình Thiền Định.

Kinh nghiệm thực hành ngồi thiền ở đây là thường sau khi ăn khoảng hai giờ đồng hồ mới bắt đầu tập thiền. Nếu tập ngồi thiền vào buổi sáng thì chỉ cân uống một ít nước là có thể bắt đầu.

2. Ngủ nghỉ hợp lý

Cuộc sống khiến chúng ta luôn cảm thấy mệt mỏi về cả tinh thần lẫn thể chất. Ngủ chính là một trong phương pháp hiệu quả để phục hồi lại sức lực sau một ngày làm việc. Thường thì trong một ngày cần ngủ đủ khoảng 7 giờ. Nếu quá nhiều hoặc quá ít thì tâm trí không được tỉnh táo hoặc mệt mỏi, uể oải, nếu thực hành ngồi thiền lúc này thì sẽ tích tụ được ít năng lượng hơn vì năng lượng phải đi điều chỉnh lại cơ thể.

Vào buổi đêm trước khi đi ngủ ta nên ngồi thiền định hoặc sau khi tỉnh giấc chúng ta cũng có thể thực hành ngồi thiền. Thiền Định xong nếu ta cảm thấy vẫn còn thèm ngủ thì đi ngủ thêm một ít. Hãy để cơ thể được tự nhiên nhất, nó sẽ tự biết nó cần gì. Tóm lại, kinh nghiện thực hành ngồi thiền ở đây là ngủ nghỉ phải hợp lý, không quá nhiều hoặc quá ít.

Thực hành thiền mang lại lợi ích về cả tinh thần và thể chất

3. Điều chỉnh cơ thể

Chỉnh thân thể cho phù hợp trong cả ba quá trình thực hành ngồi thiền định (trước ngồi thiền, khi đang ngồi thiền, sau khi ngồi thiền)

– Trước ngồi thiền đinh, chúng ta nên chỉnh đốn trang phục cho thật thoải mái, tư thế ngồi ngay ngắn, thẳng lưng. Chọn tư thế ngồi hợp lý và thoải mái nhất đối với bản thân (bán già, kiết già, …) Tuy nhiên có một số người do tuổi tác hoặc bệnh về xương khớp không thể ngồi các tư thế như kiết già hay bán già. Những người này có thể ngồi tư thế tự nhiên và phù hợp nhất với bản thân không nên quá gò ép vì Thiền Định là kích phát cái tự nhiên bên trong cơ thể.

– Trong khi đang ngồi thiền, thì tùy vào động tác có tư thế khác nhau, chúng ta thực hiện các động tác sao cho thật an nhiên, nhẹ nhàng. Chú ý lưng thẳng dể tiếp thu được nhiều năng lượng hơn.

– Sau khi ngồi thiền kết thúc, chúng ta cần há miệng thổi trược khí khỏi cơ thể. Hoạt động các khớp vai, cổ, tay, chân, … để tránh tê mỏi.

Phương pháp ngồi thiền giúp khí huyết lưu thông, đậy độc tố ra khỏi cơ thể. Vì vậy, kinh nghiệm thực hành thiền ở đây là hạy chọn tư thế tốt nhất để tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình học thiền.

4. Điều chỉnh tâm trí

Trong quá trình sinh trưởng, con người chịu sự tác động của xã hội từ đó dẫn đến luôn sinh ra những dục vọng và không bao giờ thỏa mãn với những dục vọng đó. Phương pháp thiền định khiến chúng ta tĩnh tâm và hạn chế được những dục vong xâm chiếm tâm trí, làm mờ tâm trí. Ngoài những lúc thực hành Thiền Đinh ra thì trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta cũng cần phải giữ tâm trí luôn được tỉnh táo tránh để loạn tâm dẫn đến sai lầm không đang có.

Kinh nghiệm thực hành ngồi thiền ở đây là nếu muốn ngồi thiền định đạt hiệu quả cao thì tâm chúng ta phải luôn giữ được tâm tịnh.